Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

Trời, Đất và Nước




Mưa từ Trời dội xuống
Nước từ Đất tuôn ra
Ngập tràn Đất và Nước
Đất Trời đang yêu nhau.

Đất và nước ngập tràn
Trời và đất hôn nhau
Như lòng Người ao ước
Thương nhau như Đất - Trời


Nguyễn Doãn Mạnh

Tác phẩm nghệ thuật - Bảo Toàn

Uoc gi - BaoToan

Ben Em La Bien Rong - BaoToan

Missing You (3D animation) - BaoToan

Bochum Connection 2007 - BaoToan

Nokia Commercial Project - BaoToan

The Survivor - BaoToan

The Sprout- Living On the wave (for web) - BaoToan

CHÁU " TÔ " ĐOẠT GIẢI THIẾT KẾ PHIM HOẠT HÌNH năm 2009


Winning Streak Continues at Animania 2009

Interactive Media Design alumni Nguyen Doan Bao Toan, Toni (Champion) picked up more trophies at Animania 2009, an annual animation competition organised by CreativeBITS. Last year, Toni took home the top award for his animation, and have undoubtedly sealed his status as the ones to beat.


Toni (Champion) with his awards.

Toni’s video, in contrast, was a blend of harsh reality and surrealism. He admitted that he faced some difficulty trying to mesh his “academic research” with his surrealistic storyline, but with perseverance, he eventually produced his award-winning animation, “The Sprout”.

With effort you can do everything,” said Toni. “Learn what you don’t know from someone else, or somewhere else, or use your own creativity to transform and create your own things.

In fact, Toni felt that being original and distinctive was one of the key factors that helped him win. His hand-drawn images, which he has used since primary school, give his animations a style that is uniquely his. “Our own original concepts are always the most important thing,” said Toni.




Screenshots from Toni’s video “The Sprout”, featuring his distinctive brand of hand-drawn artwork.

After bagging Animania awards two years in a row, Toni is looking forward to bigger and better things. We wish him all the best in his future endeavours!





Tạm dịch

Tin giải thưởng

Chiến thắng liên tiếp tại giải Animania 2009

Cựu sinh viên nghành thiết kế truyền thông đa phương tiện Nguyễn Doãn Bảo Toàn, Toni (Champion) đã gặt hái thêm thành công tại giải Animania 2009, một cuộc thi về hoạt hình được tổ chức hàng năm bởi CreativeBITS. Năm ngoái, Toni đã được giải thưởng hàng đầu cho phim hoạt hình của mình, và không có gì phải hồ nghi về sự vượt trội của anh ấy.

Video của Toni, ngược lại, là một sự pha trộn của thực tế khắc nghiệt và chủ nghĩa siêu hiện thực.Anh thừa nhận rằng anh phải đối mặt với một số khó khăn để cố gắng đưa những lý thuyết mình đã được học kết hợp khớp với với cốt truyện siêu thực của mình, bằng lòng kiên trì, cuối cùng anh đã đoạt được giải thưởng về hoạt hình với "The Sprout".

"Với những nỗ lực của mình, bạn có thể làm được tất cả mọi thứ", Toni nói. "Học hỏi những gì bạn không biết từ bất kỳ ai, bất kỳ ở đâu, hoặc sử dụng sự sáng tạo của chính mình để biến đổi và tạo ra những điều riêng bạn mới có."

Thực tế, Toni nhận thấy sự độc đáo và đặc biệt là một trong những yếu tố quan trọng giúp anh chiến thắng. Những hình ảnh vẽ tay của anh, điều mà anh đã từng làm từ khi còn học tiểu học, đã mang lại cho những hình ảnh của anh ấy một phong cách độc nhất."nhận thức độc đáo của chính chúng ta luôn là điều quan trọng nhất", Toni nói.

Ảnh chụp màn hình từ video "The Sprout" của Toni , thương hiệu được tạo ra từ nghệ thuật vẽ tay.

Sau khi nhận giải thưởng Animania hai năm liên tiếp, Toni đang hướng đến những điều lớn hơn và tốt hơn. Chúng tôi cầu mong những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với anh ấy trong tương lai.

Nguồn: http://www.raffles-international-college-hcm.edu.vn/Winning2009.html

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Cội Nguồn nơi xa vắng – PHẦN 2

Vào những năm đầu thế kỷ 20 , căn nhà ba gian hai chái ấy là nơi ăn ở , sinh họat của ba gia đình , hay nói đúng hơn là ba anh em ruột trong đó Ông nội tôi là đầu (đích tôn) có tên là Nguyễn Dõan Hòai… kế đến là người em trai có tên là Nguyễn Dõan Hiệp.. và một người con gái có tên là Nguyễn Thị Khéo .Như trên đã nói, Ông nội tôi (Ô. Hòai)và người em (ô.Hiệp) đều mất sớm .Ông Nội mất sớm , còn bà nội và hai người con .(Ba tôi-1919 và O tôi – O cháu -Trợ Luân-1909) . Ô. Hiệp mất sớm khi chú Trang- mới ba tuồi( còn quá nhỏ ) .Hòan cảnh gia đình như vậy nên Bà Khéo lấy chồng muộn và Người chồng là một cậu Ấm sinh quê tận Bình Định, được gia đình gửi ra Huế ăn học , sẵn có tính lãng du thích bay nhảy, Ông bỏ Huế ra Đồng Hới làm công cho hãng buôn xăng Trần Nhật Tân . Ba mươi hai tuổi , gặp được bà Khéo , củng đều là dòng dõi con cái quan có học , có hiểu biết nên hai người kết bạn trăm năm .Ông Ấm Bình Định ở rể trong gia đình họ Nguyễn chúng tôi và có hai người con là Hòang (1925) và Đẳng (1927) sau đó bà Khéo còn mai mối cho Ông lấy vợ hai và có thêm một người con nửa là chú Thành(1937) Bà (mụ Ấm) mất đâu khỏang năm 1958 hay 1959 , tại ngôi nhà riêng trên đường ra Cầu Dài thị xã, còn Ông Ấm mãi đến gần kết thúc chiến tranh chống Mỹ mới mất tại vùng sơ tán- Đồng Sơn.

Ngòai gian giữa được làm nhà thờ và phòng khách, các gian còn lại Phân chia cho các gia đình sử dụng .Gia đình Ông Mụ Ấm có có 4 người, ở phòng bên hữu và thêm chái, gian tả là gia đình bà nội tôi và hai con, kế đó là gian dành cho hai mẹ con Bà Trợ Hiệp (Mẹ con chú Trang ) Như vậy thời kỳ này bà Ấm Khéo là ngườit hay mặt cha mẹ cùng các bà dâu chăm sóc Bà, nhà cửa và chăm lo nguồn sống cho cả ba gia đình.Bà Trợ Hiệp (mẹ Chú Trang) làm các lọai nước mắm, mắm ruốc , mắm nêm, dưa chua , cà kiệu….. đem ra chợ bán, có đồng ra đồng vô lại lo cho chú Trang ăn học , hai mẹ con ở hẳn trong chái cho tiện . Khi tôi lớn lên , cái hàng tạp hóa của Bà vẫn còn ở đình chợ Đồng hới , ( cái đầu tiên ). Lên mấy bậc tam cấp là thấy , bà ngồi quay lưng ra phía sông Nhật Lệ đối diện là hàng của mệ Kỉnh củng bán ngần ấy hàng . Mỗi lần được sai ra chợ mua gì là tôi đều ghé một trong hai hàng này , ắt củng phải thôi vì chổ xóm giềng , bà cháu quen biết , bán cũng như cho mà cho thì nhiều hơn bán , nhiều khi các bà cũng chẳng thèm lấy tiền . Những lúc như vậy tôi thường ghé quán Mệ Heng ở cạnh nhà Xâu mua ba hay bốn cái kẹo Cau ,chỉ mất năm xu , tiền còn lại giấu luôn để xem xinê .Mà các Mệ , mệ nào cũng giỏi thơ phú , những khi vắng khách các mệ thường đọc thơ hoặc những trích đọan của chuyện Kiều rồi đối đáp với nhau , có lần tôi mua hai hào nước mắm ! Mệ…ơi …mệ…mệ… bán…cho con…h.a.i…h.à.o…nác …mắm ! các bà thường hỏi mua nác mắm làm chi (kho nấu hay làm nước chấm) rồi vừa múc nước mắm vừa lên giọng : Tổ …cha..mi ..có hai.. hào… nác… mắm…thôi …mà …. Cũng …bày đặt….mần … thơ .! Ôi , còn đâu nữa những bà , những mệ vừa bán hàng vừa đọc Kiều , vừa bình thơ ở một góc chợ Đồng Hới và cái kẹo cau ngọt lịm theo chúng tôi cho đến tận hôm nay .

Mọi chuyện cúng giổ kỵ chạp đều do mụ Ấm quán xuyến lo liệu. Là người biết tính tóan , ngòai quán tạp hóa ngòai chợ bà còn giao du, bắt mối với cánh lái buôn hàng chuyến trong nam ra , mua bán đường phèn, đường phổi, đường cát, kẹo mạch nha, hạt tiêu , đậu xanh,… cau khô….bà mua cau tươi đem về cho cả nhà gọt vỏ bữa thành miếng nhỏ rồi phơi khô chờ dân buôn miệt trong ra mới bán . Mà mỗi lần khách hàng đến , cả nhà rất nhộn nhịp , họ không chỉ chú ý đến việc mua bán mà còn chăm chú đến những cuốn sách , tranh ảnh có trong nhà để mượn đọc .Cũng mụ Ấm phải tìm tòi , lục lọi những cuốn sách cho họ mượn , thậm chí bà còn đọc , giảng giải hoặc phân tích nội dung sách cho họ hiểu . Trong nhà , Mụ Ấm là người thông chữ nho , có thể đọc các lọai sách chữ Hán nôm vì bà được học từ nhỏ, lúc khỏang chín , mười tuổi. mà gánh hàng xén của Mụ cũng được chuyển giao từ bà ngọai (Cụ cố của Tôi ) Cuộc sống gia đình cứ thế , cho đến ngày những thành viên trong nhà trưởng thành khôn lớn .Ai cũng được học hành đến nơi đến chốn rồi dựng vợ , gã chồng đâu vào đó .

O tôi còn nhỏ ở nhà được kêu tên Cháu , học hết bậc sơ học trường dành cho nữ ở Đồng Hới rồi thi đậu vào trường sư phạm Huế năm 1925 , hai năm sau -1927- vào Nha Trang dạy học một thời gian sau đó về Huế làm trợ giáo trường nữ sinh Đồng Khánh , ( giai đọan 1929-1930 ) đây có thể coi là niềm tự hào cho cả dòng họ vì ngày đó con gái ít học cao đến vậy lại còn được làm trợ giáo một ngôi trường có tiếng tăm là trường nữ sinh Đồng Khánh . tất nhiên bà là viên chức nhà nước rồi , hiếm có nhà nào được như vậy. Mỗi kỳ nghỉ hè O tôi từ Huế đi máy bay về Đồng Hới , mà ngày đó gọi là sân bay Bờ hơ, tuyến đường không đi lại dễ dàng lắm , có đến bốn hãng máy bay đi về lúc nào cũng được . Mỗi kỳ nghỉ hè , có O về trong nhà rất vui. O có đeo kiềng bằng vàng , chít khăn nhung, mặc áo dài rất trang nhã . Mái tóc O thì dài, dài thướt tha mà mỗi lần gội đầu , hương bồ kết thơm lừng , lan tỏa khắp nhà khi o ngồi hong tóc bên hiên nhà hay bên cữa sổ, vừa dọc sách vừa chờ tóc khô. Mỗi lần về O đều có quà bánh cho cả nhà , nhưng có lẻ thích nhất ,không phải quà bánh mà là những câu chuyện về Sông Hương Núi Ngự “ Cầu Tràng tiền chín vài mười hai nhịp, sông An Cựu nắng đục mưa trong” về cung điện lăng tẩm, về núi non hùng vĩ , về biển cả bao la mà o tôi tận mắt nhìn thấy thường ngày hoặc nhìn từ máy bay xuống. Nhưng sự đời không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái , khi bi kịch ập đến với O tôi khi đang dạy học thì bị đuổi về không cho dạy nữa. Cái bi kịch đó làm náo lọan cả gia đình , chòm xóm. Nhất là khi bà trở về nhà trong tâm trạng buồn bã cùng valy , hòm xiểng vào một buổi chiều cuối thu lành lạnh .Mãi sau này chuyện o bị đuổi cũng dần dần được sáng tỏ, số là :

Trong thời gian đi học và dạy học ở Huế, O đã có dịp gặp cụ Phan Bội Châu , nghe cụ Phan nói chuyện nhân thời thế thái , chuyện đấu tranh của thợ thuyền , về phụ nữ, về gia đình và xã hội trong nhiều hòan cảnh khác nhau , khi thì ở những nơi công cộng đông người , khi thì từng nhóm nhỏ lẻ tẻ , việc đó không không lọt qua mắt được bọn mật thám Pháp . Nhận thấy O có biểu hiện tư tưởng bài Pháp đi theo đường lối dân tộc của Cụ Phan nên chúng báo với nhà trường , O bị bà hiệu trưởng xạc cho một trận. Chưa dừng lại ở đó , một hôm bà hiệu trưởng lại xạc cô giáo Xuyến một người bạn thân , đồng nghiệp do cùng chí hướng với O .Thấy bạn bị xạc vô cớ không chịu nổi O đứng lên bảo vệ . Từ đó bị bà hiệu trưởng thành kiến , để ý theo dõi cũng như kiếm cớ kỷ luật. Lần cuối cùng , như một ly nước đầy O tôi lại cãi nhau với một vị hiệu trưởng người Pháp khi vị hiệu trưởng người Pháp này chửi mắng nữ sinh một cách thậm tệ vô căn cứ . Vị hiệu trưởng người Pháp này đã báo cáo sự việc lên cấp trên và đề nghị cách chức trợ giảng của O tôi . Là đề nghị của một viên hiệu trưởng người Pháp , nên chỉ một thời gian ngắn sau đó, O tôi bị cách chức thật với lý do :

“ Cô Nguyễn Thị Nga (tên thật cũa O tôi ) có tư tưởng chống đối nền giáo dục quốc gia ’’ đó là một nền giáo dục thực dân cũa Pháp nhằm đô hộ dân tộc ta. Chuyện O tôi bị đuổi dạy là như vậy, Năm đó , bà mới hai mươi lăm tuổi , và lập gia đình trước đó khỏang một năm. Từ ngày thôi dạy học về nhà , nhà không gọi O là Cháu nữa mà gọi là Trợ Luân - trợ là trợ giảng cũng là con ông Trợ ngày nào , còn Luân thì tôi chưa rỏ mà có lẽ nghề giáo của cha truyền lại cho con (cứ tạm hiểu như vậy đã) Nghe kể lại , chồng của O tên Thám , họ Lê là tên cúng cơm nhưng tên thường gọi là Thông ( Thám Thông) người làng Kim nại – Phủ Quảng Ninh . Ông xuất thân trong một gia đình nho học . ( Anh em tôi, hầu như không ai biết mặt dượng ) và là viên chức trong ngành bưu điện làm việc trong Sài-gòn . Lấy nhau nhưng hai người vẫn ở riêng , mỗi người một nơi , không có điều kiện ở chung . O thì dạy học ở Huế còn chồng thì làm việc ở Sài Gòn , quá xa xôi . Khi dượng Thông chuẩn bị kế hoặch xin chuyển O vào Sài Gòn cho có vợ có chồng thì đùng một cái , tin O bị đuổi dạy , qua đường dây thép cũng đến với dượng . Hòan cảnh của O đã éo le , nay còn éo le hơn .Nhưng dưới con mất của mọi người trong nhà và làng xóm lúc đó thì O vẫn là con người có đầu óc phi thường vì đã dám công khai đả phá nền giáo dục thực dân Pháp , manh nha một tư tưởng , một ý nghĩ về chủ nghĩa yêu nước hiện thực , công khai đi theo con đường yêu nước của cụ Phan và chống Pháp không chỉ trong giáo dục.

Trở về Đồng Hới một thời gian , với số tiền dành dụm được trong thời gian dạy học ở Huế -O- thuê căn nhà ngòai phố , ngay sát bót cảnh sát Đồng hới rồi sau đó mua luôn khi nghe tin chồng ở Sài- gòn cũng xin nghỉ việc do bị bệnh , cần về quê dưỡng bệnh . Dượng Thám về ,sau một thời gian trị bệnh ở quê nhà vùng Kim nại không khỏi , ông mới về Đồng Hới với O .

Với căn nhà mặt tiền phố thị , O xin môn bài , mở cữa hàng bán Rượu . chị Phong là con gái đầu của O vào khỏang thời gian đó và sau đó khỏang hơn hai năm thì người con trai thứ hai ra đời , do chị Phong còn nhỏ, dượng Thám đau yếu vì bệnh hiểm nghèo nên O sinh thiếu tháng , em bé thiếu cân . vì thiếu cân người bé tí tẹo – và Bé Tý- cũng là tên mà O đặt cho cậu con trai của mình . Như vậy O tôi chỉ có hai người con là Lê Kim Phong và Lê Công Vân (Bé tý) đấy cũng là kỷ niệm khỏang thời gian ngắn ngủi (1925 – 1939) không bao giờ phai mờ của O tôi với người chồng tài ba , đẹp trai vì sau khi Bé Tý ra đời không lâu thì ông bỏ O tôi , bỏ lại hai người con thân yêu của mình mà về với tổ tiên ông khi mới tuổi ba mươi. Lấy nhau năm năm , nhưng hai người lại ở hai phương trời , kẻ bắc người nam nên thời gian sum họp chẳng là bao . Dượng Thám mất gánh nặng cơm áo gạo tiền , lo cho hai con ăn học đè nặng lên vai O tưởng chừng như không gánh nổi .Nhưng số phận không đè bẹp được ý chí và nghị lực phi thường của người con gái Xóm Câu xinh đẹp , thông minh thuở nào. Nhờ thông minh tháo vát , O mở mang cữa hàng , thu nhập khá , có tiền hùn hạp , mở xưởng làm nước mắm , xưởng nấu ruợu mà các thứ nguyên liệu ấy đều là sản phẩm vô cùng phong phú của vùng đất đầy gió và nắng miền trung . Dâu rừng , sim rừng là hai lọai trái cây rừng được cất thành ruợu sim , ruợu dâu ngon nổi tiếng thời đó mà límh Pháp thì cho là Vang của vùng Booc-đô miềm nam nước Pháp. Còn Lính Nhật thì cho là Sa- ke của xứ Mặt trời . Còn nước mắm thì khỏi phải nói , chẳng thua gì của Phan Thiết hay Nha trang ngày đó .

“Còn Trời còn nước còn non , còn cô bán rượu , anh còn say sưa ‘’ là câu hát nghêu ngao của một số nhân vật có tiếng ngày đó mỗi khi gặp O tôi , cô Trợ Luân xinh đẹp , thắt dáy lưng ông , mới hai con nhưng vẫn trông mòn con mắt . Nhưng O tôi đều không thèm đế ý . Vì trong trái tim và tình cảm O tôi còn nhớ thương da diết đối dượng Thám và tương lai cho hai người con còn thơ dại . O ở vậy thờ chồng nuôi con , Chị Phong và Anh Vân ngày một lớn và vào tận Huế học trung học , hè nào cũng về và cũng đều là cơ sở của các tổ chức bí mật trong phong trào học sinh và sinh viên , ngòai thăm nhà còn cung cấp tin tức tài liệucho cơ sở cách mạng. Giai đọan 1943 – 1954 ,Căn nhà của O ngòai phố không chỉ là nơi làm ăn buôn bán , nuôi hai con ăn học mà còn làm cơ sở bí mật của đảng bộ thị xã Đồng Hới nơi thu thập tin tức và cung cấp tài liệu cho chiến khu kháng chiến .mà ông Hòang văn Diệm chủ tiệm thuốc bắc ngòai phố cũng chính là cán bộ Việt Minh là người phụ trách . Chị Phong lớn lên ngày càng xinh đẹp , ấy là cái đẹp đài các kiêu sa được thừa hưởng của mẹ từ mái tóc cho đến khuôn mặt và dáng người cao ráo , mà thanh nhã của dượng Thám . Thời đó , có rất nhiều cây si được trồng ngay trước nhà chị và Cô Trợ Luân đương nhiên , được nhiều người nhắm đến nhằm kết nghĩa thông gia .

Nói có sách , mách có chứng ! người viết bài này có dịp đọc hồi ký của một nhà văn , cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa Quảng Bình Ông ghi lại như sau: Qua môi giới của Vinh , Chu lại yêu Phong ,con gái đầu xinh đẹp của cô Trợ Luân….và đang trong quá trình tìm hiểu Phong thì Chu có lệnh điều động vào Cần thơ theo một đội giang thuyền vừa được thành lập trong đó với quân hàm trung úy . Mối tình xem như bị bỏ dở vì cô Trợ Luân không muốn gả con gái đi xa …

Hòa bình lập lại (sau 1954 ) khi chị phong , anh Vân lớn lên O cho hai người ra Hà nội ăn học, O ở lại Đồng hới tham gia công tác xã hội , tổ chức phụ nữ là thành viên mặt trận Liên Việt liên khu 4 và Quảng Bình . Có thời gian O tham gia một số phiên tòa xét xử của tòa án với vai trò của một hội thẩm . Khỏang 1960 , khi chị Phong , Anh Vân học xong và công tác ở Hà Nội rồi lập gia đình ngòai đó thì O tôi nhượng căn nhà chất chứa đầy kỷ niệm một thời son trẻ thuở hàn vi cũng như khi công thành danh tọai cho hợp tác xã thủ công may mặc , thêu đan thị xã , rồi ra Hà Nội sống với các con .

( Sở dĩ tôi nói nhượng vì không rõ việc mua bán đã hòan tất chưa vì sau đó khỏang 4 năm , chính xác là sau ngày xảy ra trận đổ bộ của tóan biệt kích quân đội Sài Gòn vào khu vực biễn Đồng Thành đêm 30/6 rạng sáng sớm 1/ 7/ 1964 thì O có về thăm quê, kết hợp giải quyết giấy tờ tiền bạc liên quan đến căn nhà . Chuyến này, có Lan khi ấy mới 4 tuổi là con chị Phong , cháu ngọai của O đi cùng. Coi như đây là quà cho cháu ngọai trước khi lên lới 1. Dự kiến về đợt này sẽ kéo dài , vì giải quyết nhiều việc nhưng đến này 5/8/1964 thì chiến tranh phá họai Mìền Bắc xảy ra , mọi công việc đều bị gác lại .)

Cô gái xinh đẹp họ Lê , tên kim Phong con cô Trợ Luân nay cũng đã vào tuổi xưa nay hiếm ( 78 tuổi ) nhưng mỗi khi nhắc lại chuyện củ cách đây 60 năm chỉ tủm tỉm cười và chậm rãi cho biết : Người ta thích mình , chứ mình có biết ai đâu , và chị khẳng định chưa hề có tình cảm với ai vào thời gian đó. Ông Chu , chị có biết nhưng chưa hề…nói chuyện . Rồi chị nói tiếp :
Tau chỉ có một mình bố thằng Quân thôi ! Vâng , đó là Anh Quế, người quê Hưng Yên , Anh họ Lưu ( Lưu đình ) anh tham gia cách mạng giai đọan trước 1945 , là một trong những chiến sĩ cãm tử quân bảo vệ thành Hòang Diệu , là một quân nhân quân đội nhân dân Việt nam từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa . ( trong bài Hòai nhớ phần 1, tôi có nhắc về chuyến ra bắc sơ tán ngày 13/ 11/ 1965 trên chiếc xe mônô – chính là chiếc xe mà Anh Quế , lúc đó chuyển ngành về công tác tại bộ Thủy lợi vào Quảng Bình công tác . Còn anh Vân , tốt nghiệp đại học sư phạm Hà nội năm 1959 , anh lập gia đình với chị Kim Oanh , cùng học và tốt nghiệp năm đó . Chị Kim Oanh người Hà nội chính gốc – nhà chị ở phố Quan thánh , cạnh Hồ tây , mà con gái Quan thánh – Thánh cũng còn mê . Trong bài Hòai nhớ Phần 1 tôi có nói về chuyến đò dọc sông Nhật Lệ khi mới bảy , tám tuổi đò chòng chành , nghiêng ngả cùng với anh chị tôi ….ấy là chuyến Anh đưa Nàng về dinh thăm quê , làng Kim nại . Bổng dưng tôi chợt nhớ đến người bạn gái cũng có cái tên na ná như chị - Trần Oanh Oanh- nhà ở ngã ba Quan thánh –Đặng Dung , học cùng trường nhưng sau ba khóa , ấy là năm 1976 khi tham gia hội thao các trường đại học trong ngành, lớp tôi và lớp cô ấy được chọn biểu diễn vũ thuật . Ra trường Oanh Oanh công tác ở Hà nội một thời gian sau đó được biệt phái sang bộ ngọai giao trong vai tùy viên văn hóa đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô …Nay định cư tại Pháp , diện theo chàng về dinh . Nhà Oanh Oanh cách nhà chị Kim Oanh có mấy căn . gái Quan thánh , Thánh cũng mê mà Pháp cũng mê . với tôi : Botay. Com !...

Ba tôi học học chữ Nho với ông ngọai ngòai phố khỏang hai năm sau đó vào trường tiểu học Việt Pháp ở trong Thành . về nhà ông nói tiếng pháp , rồi hát những bài hát bằng tiếng pháp “Dậy , dậy , dậy mở mắt xem tòan châu” đó là lời của cụ Phan Bội Châu trong một bài hát ngày đó . Cũng vì lý do đó nên các chú rất thích thú , nó như một chất men thôi thúc các chú đến trường. Sau đó ông mở lớp dạy học tại nhà , cuộc sống vì thế cũng kha khá ( Đã có phần viết riêng cho cha , mẹ - Hòai nhớ phần 2)

Chú Trang , đã mười lăm tuổi còn cắp sách đi học chử Nho ở thầy Cửu Trác , thầy Cửu Trác có chữ đẹp nổi tiếng trong vùng và học trò (đương nhiên ) cũng được tiếp thu những nét chử hoa mĩ , bay bướm ấy .Mà thầy Cữu Trác , trước kia cũng là học trò của ông ngọai ba tôi ngòai phố.

( Mà thật , cách đây khỏang ba mươi năm , khi cơ quan tôi ở thành phố Hồ Chí Minh xác minh lý lịch cho tôi lập gia đình thì chú có viết vào biên bản xác minh và cam kết rằng cho tôi chưa có vợ …. Với dòng chữ và chữ ký rất điêu luyện , chân phương mềm mại , ngắn thôi nhưng đầy đủ ý tứ )

Mụ Trợ (mẹ chú Trang) làm ăn cần kiệm , có tiền vô tiền ra lại có tiền để dành và được bà con họ hàng giúp đở nên cất một căn nhà ngói ngay mảnh đất trong vườn nhà , bên cạnh túp lều tranh hai trái tim vàng của vợ chồng ông Bếp Cu (xin nói thêm về vợ chồng ông Bếp Cu ở phần Sau) Thời gian này O Trợ Luân cũng đã thuê nhà ở riêng ngòai phố ,chú Trang đã lớn , lại có hoa tay thông minh sáng dạ đi học nghề điện với một ông thầy giỏi ngòai Tam Tòa và đã được nhận việc trong nhà máy điện Đồng Hới .Mụ Ấm mua một miếng đất trên đường ra Cầu dài , cạnh chùa Linh Quang và cất nhà ở đó . Tuy đã cất nhà , nhưng không ở mà cho thuê . Gia đình vẫn ở chung trong căn – Từ Đường - Việc Mụ Ấm mua đất cất nhà , Mẹ con chú Trang cất nhà ra riêng, và O tôi mua nhà ngòai Phố thực chất là bước chuẩn bị cho sự chuyển giao căn nhà do tổ tiên để lại cho Ba tôi quản lý , chăm sóc , bảo vệ, thờ cúng với tư cách là cháu đích tôn . Như vậy , khu đất Ông Bà để lại vẫn do Ba tôi và chú Trang sử dụng và ở đó cho đến sau này . Căn nhà của Mụ Ấm qua nhiều người thuê , thậm chí trong thời gian Pháp tạm chiếm còn bị lấy làm đồn lính , mãi cho đến ngày hòa bình mới lấy lại được . Còn nhà của O tôi ngòai Phố thì O ở , ngòai việc bán hàng bách hóa , đây còn là cơ sở che dấu cán bộ cách mạng các thời kỳ , thu thập tin tức , cung cấp thuốc men cho chiến khu . Cân nhà này tuy ở mặt phố và ngay sát bên đồn cảnh sát , có lẻ vì thế mà không bị để ý âu cũng là chuyện thường tình.

Sau này chú Hòang , chú Đẳng cũng lần lượt đi học , lúc đầu học chữ Nho, sau chuyển sang chữ quốc ngữ cùng trường với ba tôi và chú Trang đã học trước đó . Ba tôi kèm chữ quốc ngữ còn chú Trang kèm chữ nho cho cả hai người .

Trường sơ học Pháp – Việt tỉnh , phải chăng đây là trường tiểu học Đồng hới thời kỳ đó , trường chỉ có sáu lớp . không khí nhà trường rất nghiêm trang, các thầy giáo ăn mặc chỉnh tề áo sa đơn , quần vải quyến trắng là thẳng tắp chân đi giày , đầu đội khăn đống .Ông đốc – hiệu trưởng- mặc áo gấm nền hoa .

Nói tóm lại thì Ba tôi , O tôi với chú Trang là anh em chú Bác ruột . Với chú Hòang , chú Đẳng là cô cậu ruột , cả mấy anh em ai cũng cao ráo , chưa dám nói là đẹp trai thì dáng dấp đó cũng đủ để nhiều người để ý . Chú Trang có chiều cao hơi bị khiêm tốn , chiều cao của chú nếu tính cả thị xã thì số người cao như chú chỉ đếm trên đầu ngón tay .Tôi đã một mét sáu mươi , đi dép còn kiễng chân nửa củng chỉ ngang vai chú . Lại nhớ , năm 1965 khi Quảng Bình bắn hạ máy bay , bắt sống phi công - trung tá Su – Mít – Cơ . Khi đưa hắn đi bộ dọc đường Lâm úy cho nhân dân thị xã xem thì , ngòai cái đầu của “ Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu ” chỉ có vài người có chiều cao ngang ngữa với nó , trong đó có chú Trang. Cũng xin nói thêm , Su –Mít –cơ không chỉ là một trong những phi công của không lực Hoa Kỳ có cấp bậc khá cao bị bắn hạ (sử dụng dù màu đỏ) mà hắn còn là một phi công vũ trụ tương lai của hợp chủng quốc Hoa Kỳ . Nhiệm vụ của hắn là nghiên cứu về hỏa lực phòng không của ta để rút kinh nghiệm đối phó , ngòai ra hắn còn là tiến sỉ âm thanh học , trong quân đội Hoa Kỳ . Ngồi trong trại giam , nghe tiếng máy bay gầm rú trên không , hắn biết đâu là máy bay Mỹ hoặc không phải máy bay Mỹ. Lọai máy bay và số lượng từng tốp cũng như độ cao trên không …..có điều thời gian ngồi trong trại hắn không còn quan tâm đến cấp bậc , chức vụ hay học vị của hắn mà chỉ chờ đợi lắng nghe tiếng chuông nhà thờ rồi cầu mong cho chiến tranh sớm kết thúc . Để Hắn được về.

Vợ chú Trang – là Thím Đị cũng người Xóm Câu , và nếu nhớ không lầm , thì ông thân sinh của thím là ông Hội một lão ngư có tiếng ở vùng Xóm câu , có khu nhà ở kiệt đầu đường Xóm Câu chổ nhà Xâu đi xuống , mà khu vực đó tòan những gia đình bà con họ hàng của thím . Thím Đị có 5 anh em , , các con thím và anh em bên gia đình tôi củng gọi bằng Cụ ( cậu) là Cụ Lường , cụ Nuôi , Cụ Nớn (Kiều Giang ) và O Bé ( Mai)


Nguyễn Dõan Mạnh

Cội Nguồn nơi xa vắng - PHẦN 1

Đã nghỉ hưu, sắp bước sang tuổi sáu mươi thì chẳng còn trẻ mà chỉ chớm già . Tuổi này, cuộc sống đã tương đối ổn định nên ai cũng thường nghĩ về gia đình , cha mẹ , anh em , Quê hương , bạn bè và cả tình yêu thời son trẻ . Mình đã có bài viết về quê hương , về gia đình ,về cha mẹ , về anh em và cả về bạn bè một thuỡ thiếu thời hoa lửa , gian lao vất vả nhưng tràn đầy niềm tin , lạc quan và hy vọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước . Nhưng , thú thật chừng ấy thôi thì vẫn còn thấy thiếu vì ai sinh ra cũng phải có Ông, Bà tổ tiên dòng giống ,đấy là cội nguồn . Ngược dòng thời gian, đi tìm cội nguồn là một công việc không phải dể, nó đòi hỏi phải có sự kiên trì , nhẫn nại cũng như óc suy nghĩ chín chắn, chính xác bởi các sự kiện, con số phải thật sự chính xác không được hư cấu hoặc bóp méo . Vì “Quá khứ thì bất động. Còn lịch sử thì di động. Nếu ai đó có đi ngang qua dưới luồng ánh sáng của nó, xin chớ xem cái bóng phản chiếu đó là mình, Vì cuộc sống là một tổng thể diệu kỳ của muôn vàn biến động ” Và “ Chỉ có đi qua sự hòai nghi , chúng ta mới có lòng tin vững chắc”

Bởi vậy, Tôi rất băn khoăn với ý nghỉ táo bạo sẽ viết đôi điều gì đó về Ông, bà tổ tiên khi trong tay không có một tư liệu hay nhân chứng gì cả. Những người thế hệ trước, nay chẳng còn ai, thế hệ tiếp sau xem ra cũng không. Đến tuổi này thì đều đều bằng nhau không hơn không kém . Có chăng chỉ là những mẩu chuyện có tính chất vụn vặt, không theo thứ tự thời gian năm tháng , thậm chí cả ngôi thứ trong nhà cũng có thể sai lệch. Tôi sinh ra và lớn lên, ngòai cha mẹ, anh chị em trong nhà của tôi là những người thân yêu nhất, vẫn còn đó những cây cao bóng cả trong dòng họ Nguyễn .Nếu sắp xếp theo thứ tự trên dưới, có thể kể ra một số người mà tôi còn được biết mặt như sau. Bà nội Trần thị Chữ…. ( đến năm 1957 mới mất) Rồi O ruột của Ba tôi, bà Nguyễn Thị Khéo ( mẹ của chú Hòang , Chú Đẳng – ) chị ruột của ba tôi, O Trợ Luân –Nguyễn Thị Nga … Và những Người thế hệ trước…

Dòng họ Nguyễn Giai đọan cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19


Sách‘ Địa chí Đồng Hới ’ có ghi: Theo thống kê của Triều Nguyễn , làng Đồng Hải có 6 vị cử nhân và một vị tiến sĩ võ .Sáu vị cử nhân này là : Ngô Trọng Vĩ đậu năm 1819, Gia Long năm thứ 18 . Ngô Bá Tuấn đậu năm 1828 , Minh Mệnh thứ 2 . Nguyễn Văn Long đậu năm 1852, Tự Đức thứ 5. Nguyễn Dõan Thăng đậu năm 1870 tự Đức thứ 23. Trần Văn Trứ đậu năm 1822 , Tự Đức thứ 35 . Hòang Khai Tế đậu năm 1897, Thành Thái thứ 9 . Về Ông Tiến sĩ võ, được gọi là hậu quân đại tướng Hồ Vịm , tên thật là Hồ Viêm . Như vậy trong 6 vị cử nhân người Đồng Hải thì họ Ngô có hai vị , họ Nguyễn có hai vị còn 2 vị là họ Trần và họ Hòang . Một trong hai vị cử nhân họ Nguyễn là dòng họ Nguyễn Dõan , Ông Nguyễn Dõan Thăng … Nhưng xem ra Ông Nguyễn Dõan Thăng cũng chưa phải là ông tổ của dòng họ Nguyễn Dõan mà trước đó còn có ông cao tổ là Nguyễn Dõan Thanh mới lấy chữ lót là Dõan .Như vậy , chắc chắn Ông cử nhân Nguyễn dõan Thăng là một nhánh trong dòng họ Nguyễn Dõan . Và trong gia Phả cũng như bia mộ gia đình tôi , hiện thờ Ông Nguyễn Dõan Thăng . Tôi chưa có đủ tư liệu và đang trong quá trình tìm hiểu về mối quan hệ từ thời Ông nguyễn dõan Thăng về sau , mà chỉ biết từ giai đọan Ông Cố nội ( tức ông nội của ba tôi )

***************

Ông cố (ông nội của bố tôi) có tên Nguyễn dõan Chấp, Ông là một ấm sinh. Ông học giỏi, nhưng không ham thi cử . nói đúng hơn, không dưới một lần ông đã cắp tráp đi thi, nhưng vì phạm húy, bị đánh hỏng . Từ đó Ông sinh chán , không thiết tha thi cử gì nữa mà ở nhà lấy sách làm bạn , cạnh đó Ông còn có thú vui thích chơi cây cảnh và non bộ , lấy thú an nhàn làm vui . Ông chịu khó đi nhiều , mà chủ yếu để tìm mua và đọc sách. Nghe kể , Ông thừa hưởng và không ngừng bổ sung tủ sách của cha để lại (Cụ Sơ …).Khu nhà, Vườn cây cảnh mà cụ cố để lại hồi đó có hòn non bộ, các chậu sành, chậu sứ, bộ đôn đá Thanh cùng những giò phong lan và một tủ sách đồ sộ. Đó là căn nhà ba gian hai chái khá rộng , kiểu nhà xưa ở các gia đình khá giả miền trung, cột gổ bóng nhẵn, có chạm trổ sơn son thếp vàng , rồng phượng rất công phu ở các vì kèo , mái lợp bằng ngói liệt thông thường nhưng được xây bằng thứ gạch khá chắc với lớp keo hồ bằng vôi vữa trộn mật mía, có đủ độ bền để chịu đựng thử thách của gió mưa và năm tháng . Phía trước là một dãy cữa bàng khoa có chốt gài cẩn thận để phòng trộm cắp. Tiếp cữa bàng khoa là một dãy cữa liếp bằng lá cọ, có thể chống lên hoặc sập xuống vừa che mát cho bên trong, vừa che sương cho người ngủ ngòai trời trong những đêm nóng bức. Sân lát bằng thứ đá trắng (đá liếp ) mỗi tấm vuông vức dễ đến một mét vuông để phơi phóng, thường các cụ phơi cau hoặc thỉnh thỏang phơi sách vào những ngày nắng ráo sau mỗi mùa mưa bảo. Mà thông dụng nhất là nơi vui chơi, đá kiệu , chơi cầu đùa giỡn của con cháu trong nhà.

Giữa sân có một cái bể cạn bằng đá Thanh , có lẽ vì đá được mua từ Thanh Hóa về . Trong hồ lúc nào cũng có đàn cá vàng bơi lội quanh năm, quanh một hòn non bộ có tiều phu gánh củi, có tiên ông đánh cờ và uống rượu, có cây si được hãm lớn , nhỏ tí xíu nhưng cũng đủ bóng che mát một cây cầu bằng gốm sứ , lung linh bảy sắc cầu vồng .

Xung quang cái hồ đó có bốn cái đôn cũng được đẽo bằng đá Thanh , trên đó đặt bốn chíec chậu cảnh bằng sành, hai chậu ngòai trồng hai cây xương rồng lúc nào cũng nở hoa đỏ thắm . Hai chậu phía trong là hai cây nguyệt quế cho hoa trắng muốt và cho quả bậm dài , trong như những quả ớt tí hon và mùi thơm thoang thỏang vào mỗi chiều tối và mỗi ban mai.

Phía ngòai là một hồ chứa nước, xây bằng ximăng nữa chìm nữa nổi . Cứ mỗi khi mưa Ba và các Chú lại dở bộ máng tre đem ra hứng nước , nước đổ xuống từ mái nhà , theo ống máng chảy thẳng ra bể . Khi nước đầy , hồ được đậy điệm kỷ lưỡng, gia đình có nước dùng quanh năm. Ngay cả trong những ngày hạn hán khỏi phải đi lấy nước xa , đở tốn tiền bạc . Kế hồ nước , cách một lối hẹp cỡ một mét rưởi là một tấm bình phong xây bằng gạch được đắp nổi phía ngòai hai trái đào tiên với một chùm lá được cách điệu hóa tượng trưng cho sự trong sạch và trường thọ . Đó là nơi dành cho con cháu đánh bi , đánh đáo . Phía ngòai là ranh giới của gia đình và bên ngòai là một hàng rào chè và đá bao quanh khu nhà . Ở đó , ngay lối đi vào là một cái cỗng bằng gạch sừng sững uy nghiêm có mái hiên lợp bằng ngói liệt , bên trong là hai cánh cửa bằng gổ lim vững chãi. Ở hai gờ cổng có một đôi câu đối lạ mà dù đã tò mò hỏi nhiều người mà cho đến nay chưa ai giải nghĩa một cách thỏa đáng do tính hàm súc của câu văn và tự dạng khó đóan do lối chữ triện vuông chằn chặn, được cách điệu hóa một cách tài tình , tinh xảo .

Phía trước và xung quanh nhà là một vườn cây lưu niên gồm cam , quít , bưởi , đào long , lựu , mãng cầu , ổi . Ở bức bình phong lối ra vào , có một cây Tùng , một cây bách tượng trưng cho sức sống mãnh liệt , sự trường tồn “bách niên giai lão” của các cụ. Trong vườn còn có hai cây nguyệt quế lâu năm , nở hoa bốn mùa, mấy bụi dạ lan thường thơm lừng về đêm và một cây mai trắng thường nở hoa vào mỗi độ xuân về . Dọc mái hiên nhà là lủng lẳng vài chục giò phong lan nở hoa đủ màu sắc .

Tôi đã được sống ở cả ba miền Bắc Trung Nam ,đã có dịp ghé thăm nhiều ngôi nhà cổ ở Làng Đường Lâm ( Sơn Tây ) ,cao nguyên đá Đồng Văn –Hà Giang hay những ngôi nhà cổ các tỉnh miền bắc dọc sông Hồng . Rồi những căn nhà rường , nhà vườn ở Huế , ở Hội An và xa hơn nữa tận Đồng bằng sông Cửu Long nơi có các dinh thự của các công tử Bạc Liêu , công tử Trà Vinh thì ở đâu cũng có dáng dấp hoặc nét hao hao với căn nhà mà tôi đang nói ở đây.

Ông Cố có ba người con , hai trai một gái thì số phận hai người con trai không được may mắn : Mất sớm khi chưa đến ba mươi tuổi , chỉ còn người con gái mà ba tôi gọi bằng O đó là Bà Ấm Khéo . Xin ghi lại cho rõ hơn trừơng hợp mà tôi vừa nêu về số phận không may mắn của hai ngừơi con như sau : (Bố của ba tôi và bố của chú Trang).

Nguyễn Dõan Hòai ( Khóa Hòai ) là bố của ba Tôi (ông nội tôi) được ăn học đến nơi đến chốn , về nhà mở lớp dạy chữ Nho và dạy cùng người anh vợ ở ngòai phố chính thị xã . Nhưng số phận không mỉm cười khi lúc này chữ Nho ít thông dụng , học trò chuyển sang học chữ quốc ngữ thành ra Cụ gần như bị thất nghiệp , túng bấn . Phải gửi Ba tôi và O tôi cho bà ngọai đảm nhiệm . Không bao lâu sau đó Cụ bị mất trong trận đại dịch đậu mùa năm Ất tỵ mà số người chết hơn một phần mười dân số thị xã , năm đó thị xã như đại tang.

Nguyễn Dõan Hiệp (Khóa Hiệp- bố chú Trang) là người thành thạo cả chữ nho và chữ Quốc ngữ nên được bổ làm lương sư trường sơ học Pháp – Việt tổng Võ Xá . Cụ tham gia phong trào cách mạng do Cụ Trần Quí Cáp phát động . Một ngày tháng bảy Cụ đi bộ từ trường về nhà , khỏang 10 km trên đường xe lữa để về nhà xin phép làm lễ róc tóc theo yêu cầu phát động của tổ chức . Không may trên đường đi về nhà cụ gặp một cơn mưa giong , về nhà bị cảm hàn mà cấm khẩu chết không kịp chạy chữa . Khi đó Chú Trang mới lên ba và người vợ (mẹ chú Trang) mới hai mươi ba tuổi. Trở lại với khu vườn, cây trái, trong khuôn viên căn nhà, Nghe kể lại , hồi đó ba tôi rồi chú Trang ,chú Hòang , chú Đẳng lúc đó còn nhỏ thường leo lên ngọn cao nhìn khắp hàng xóm , nhìn cả ra bãi cát vàng bên kia sông Nhật lệ vì ngày đó nhà cữa còn thưa thớt lắm nên đã tận hưởng cái thú vui “nhìn xa thấy rộng và khi tụt xuống ai cũng hái cho mình một hai túi quần trái cây căng cứng , quả thật ngon, đem tặng mấy cô nàng, là em út hàng xóm láng giềng . Mấy cây mãng cầu thì có thú hấp dẩn khác, thường sau mỗi trận mưa là mãng cầu chín mà trái to ở bên dưới thấp lè tè với tay là hái được . Chú Hòang và chú Đẳng thường thám thính trước nhằm những trái chín thì xơi luôn còn trái nào nứt mắt thì báo cho ba tôi hoặc chú Trang rồi cùng đem rổ rá ra hái , đem về chia cho từng gia đình tùy nghi sử dụng , mà cái quyền này là của Ba tôi vì ông là cháu đích tôn của cả ba gia đình .

Ba gia đình mà Ba tôi là cháu đích tôn cùng ở trong căn nhà ba gian hai chái này là căn nhà do ông nội của ba Tôi để lại . Xin mô tả một đôi chút về sự sắp xếp của căn nhà và nơi ăn ở của từng gia đình như sau : Gian giữa là gian thừa tự và phòng khách chung (gian thờ ở phía trong, phòng khách ở phía ngòai) Gian thờ trong là nơi thiêng liêng và bí ẩn. Do gia đình theo đạo Nho, nhưng cũng thờ Phật do các Cụ chứng kiến quá nhiều những bi kịch của lịch sử và đất nước từ thế kỷ trước trở nên thờ Phật và sùng luôn tất cả mọi thứ thần thánh cần cúng bái trên đời. Cái Trang thờ Thập điện Tướng Quân và Ngọc Hòang Thượng Đế là nơi trang trọng nhất trong gian thờ, còn lại là bàn thờ để thờ ông bà. Gian này tương đói tối và ẩm , ban ngày ánh sáng mờ ảo được chiếu xuống từ một tấm gương nhỏ lợp thay ngói từ trên mái , tằn tiện tỏa ánh sáng vừa đủ xuống trang thờ . Tuy nhiên khi vào đó nhắm mắt , đứng một lúc rồi mở mắt thì mới thấy nguyên được cả . Đó là tủ sách khá khá to và rộng của các Cụ để lại còn xung quanh treo tám bức tranh lụa, vẻ cảnh, phong cảnh trong tranh thật hữu tình ! Chùa trong núi, thuyền dưới sông, chim nhạn lơ lửng bên ghềnh đá, ngư ông thư thả trong nắng ráng chiều, túp lều cỏ ven sông , bóng tùng nghiêng chênh vênh in hình xuống mặt nước long lanh. Bộ tứ bình mai, lan, cúc, trúc rồi bộ long phượng giao duyên. Những ngày giổ chạp tết, những bức tranh này càng lung linh, huyền ảo dưới ánh sáng những ngọn đèn sáp mùi mỡ bò quyện lẫn mùi trầm hương làm xua đi vẻ u tối thường ngày. Những ngày đó , các cụ thường áo dài đen, đầu khăn đống, chân guốc mộc và vẽ mặt thành kính tạo nên cảm giác như đang sống trong một thế giới xa xưa, huyền bí vô cùng. Dưới ánh sáng lung linh của hàng chục cây đèn sáp, các bức tranh xung quanh đều trở nên sinh động như thật , những làn khói trầm hương , khói nhang cùng hương thơm của nó lan tõa như có thể bay đến các thánh thần . Xin nói thêm đôi chút về tủ sách của các cụ để lại mà trước đây nghe Ba tôi và chú Hoàng sau này có kể lại như sau : Sau những ngày mưa dầm hoặc lụt lớn ba tôi và chú Trang thường mở toang các cánh cửa tủ, lấy sách đem phơi , rải lên hàng chục chiếc nong chật cả sân trong sân ngòai, mà ngày đó cả Ba tôi và chú Trang cũng đã đọc được cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ , còn chú Hòang chú Đẳng thì chỉ xán lại xem ba tôi dở từng tờ xem hình mà công việc đó ai củng cảm thấy rất thích thú vì hình ảnh là những hiệp sị áo mão uy nghiêm, những vị tướng cưỡi ngựa lẩm liệt, cầm kích , cầm giáo mác hoặc thanh long to bản . Cũng có cả cảnh núi non hùng vĩ , sông nước hữu tình, có thuyền chài và ngư ông ngồi bên bình rượu , ấm trà hoặc là cảnh những ông quan mặt sắt đen sì đang thẩm vấn một bầy tội nhân mặt mày bậm trợn như qũy. Sau này trong một dịp nói chuyện với chú Hòang tôi mới biết đó là những bộ sách Tam quốc diễn nghĩa, Tam hạ nam đường, Tiết nhân Quí chinh đông … Bao công kỳ án …và cả chuyện Kiều nổi tiếng bằng chữ nôm mà lúc nhỏ chú Hòang, chú Đẳng được mẹ là Mụ Ấm hát ru khi còn ẵm ngữa . Ngòai sách bằng chữ Nôm , tủ sách còn có cả sách bằng chữ quốc ngữ cùng các hình vẻ minh họa , sách tóan học, và có cả sách dạy nghề làm thuốc cùng các chỉ dẩn cụ thể công thức , sơ đồ chỉ dẩn về cơ thể con người hay có cả sách hướng dẩn chăm sóc cỏ cây hoa lá , cá nước chim trời và rất nhiều muông thú. Cái tủ ấy được đóng bằng lọai gổ nhẹ và bền, có nhiều ngăn hộc, bên ngòai sơn đen bóng lóang, các nẹp tủ phủ sơn mài để đựng các lọai sách khác nhau .Nếu có ánh sáng rọi vào trông rất hấp dẫn.

Như vậy, tủ sách trong ngôi nhà này đã có từ rất lâu , chí ít cũng từ đời ông nội của ba tôi để lại . Qua bao thăng trầm của lịch sử , nhất là các đợt tản cư trong thời Pháp thuộc và hư hỏng do mối mọt , số lượng sách củng dần dần vơi đi , đến thời chúng tôi chỉ còn một ít và cho đến chiến tranh phá họai của giặc Mỹ thì tất cả đã trở thành mây khói cùng ngôi nhà và cả Thị xã Đồng Hới thân yêu của chúng tôi . 




  • Nguyen Hoai An
    Chào chú Mạnh. Cháu là Nguyễn Hoài Ân giáo viên trường THPT Đồng Hới. Cháu biết chú là em của chú Dũng. Vì ba cháu là Nguyễn Đức Danh bạn của chú ..
    • .
      • 13:29 26 thg 2 2011
      Chú Manh chào Cháu nhưng rất tiếc chưa rõ là thầy hay cô. Cũng chẳng sao. Vì qua giới thiệu cũng người nhà cả, chú Manh rất thân với chú Diệm. Được..
  • TênTên
    • TênTên
    • 02:37 24 thg 2 2011
    Anh là một người đáng được yêu. Một con người luôn luôn hoài nhớ về quê hương, tình làng nghĩa xóm, gia đình, trường lớp, bạn bè thân quen yêu dấu. Bài viết rất đáng trân trọng. Viết nữa đi anh.

CÔNG CHA CÔNG MẸ

“LUNG LINH,LUNG LINH,TÌNH MẸ TÌNH CHA,
LUNG LINH ,LUNG LINH,HAI TIẾNG GIA ĐÌNH”

Hồi ký: HOÀI NHỚ

Căn nhà ba gian , hai chái mái lợp bằng ngói xưa, cột kèo ,rui mèn bằng gỗ táu, gỗ lim …, những bức hoành phi sơn son thiếp vàng dược sắp đặt từ thấp lên cao , từ trong ra ngoài, bao quanh khu vực bàn thờ tổ tiên , gia tộc. Bàn thờ được chia làm bốn cấp , chiếm một phần rộng gian giữa căn nhà. Ngôi nhà, nằm giữa khu vườn , trong một khoảng không thoáng mát,với rất nhiều cây cảnh ,cây ăn trái. Nào Lựu, nào khế, nào mảng cầu… rồi hoa hồng , hoa cúc, thược dược, bon sai….và rất nhiều các loại thảo dược thông dụng khác, được trồng kín khắp vườn nhà .Cây trái xanh tươi, hoa nở khoe sắc, tiếng chim ríu rít gần như suốt ngày. Con đường đất rộng chừng hai mét dẫn lối vào vườn nhà. Cạnh bên có một hồ chứa nước ngọt thật to, đủ dùng quanh năm.Trước sân nhà là một hồ cá cảnh (non bộ nguyên khối) , lúc nào cũng có tiếng róc rách của nước chảy và mấy lão tiều phu đốn củi dưới núi đá , nước hồ trong veo với đàn cá đủ màu sắc bơi lội tung tăng .Thật là “ sơn thủy hửu tình”-một không gian yên ã, thanh bình làm sao; nơi chôn nhau cắt rốn, chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn và tình cảm gia đình, của năm anh em dòng họ Nguyễn chúng tôi là vậy.

Căn nhà và khu vườn ấy, không rõ được xây dựng vào năm nào, vào đời nào .Chỉ biết Bố tôi là Người được sở hữu, quản lý , đồng thời chăm sóc thờ cúng ông bà tổ tiên của dòng họ . Do đó, đây cũng là nơi năm anh em chúng tôi được sinh ra, lớn lên cùng quê hương Đồng Hới .

Căn nhà và khu vườn này mang số 64 đường Xóm Câu ,tiểu khu 3 khu phố Đồng Hải , thị xã Đồng Hới , tỉnh Quảng Bình. Cho đến nay , hình bóng căn nhà này chỉ còn lại trong ký ức, trong tiềm thức và nỗi nhớ không nguôi của mỗi chúng tôi, cũng như Thị xã Đồng Hới có thời được coi là Thị xã Hoa Hồng cũng chỉ còn trong tiềm thức , trong ký ức và nổi nhớ của người dân Đồng Hới hôm nay

“Có những điều tưởng đã trôi xa,
Bỗng hiện lại giữa lòng ta chi chút,
Tiếng một nhánh hoa rơi cũng làm ta tỉnh giấc.
Huống chi đây….là một ĐỒNG HỚI thanh bình

Nhắc lại những kỷ niệm về ngôi nhà , con đường và Thị xã Đồng Hới xưa sẽ có người cho là hoài cổ thậm chí lạc hậu . Nhưng với tôi, tuy không có tham vọng trở về cố hương và có lại được một thành phố như xưa, vì như vậy sẽ không thực tế, nhưng ngược lại vì cuộc sống hôm nay đã quá dư thừa, đầy đủ mà quên đi những kỷ niệm xưa kể cũng đáng trách lắm đó !

Đường Xóm Câu không rộng, cũng không dài so với những con đường khác ở khu Đồng Hải. Nhưng đây lại là con đường chính , tập trung hầu hết, đầy đủ các tầng lớp cư dân mang tính đặc trưng về ngành nghề của Thị xã như thợ thủ công , trí thức, ngưới dân lao động, ngư dân , tiểu thương v. v . Dọc hai bên đường là nhà , nhà này nối tiếp nhà kia bằng những mảnh vườn, bằng những hàng rào dâm bụt hoặc những bức tường bằng đá được chồng được úp lên nhau, có nhà hàng rào được xây kiên cố bằng táp lô rất chắc chắn Tôi còn nhớ, nhà tôi có cổng đi vào rất đẹp và kiên cố, từ mặt đường đi lên có bốn bậc cấp mới đến cổng nhà.Cổng nhà cũng như một căn nhà nhỏ, có mái, có tường và hai cánh cửa bằng gỗ rất to , chốt bên trong rất chắc chắn. Mặt trước cổng nhà , một bên là tường bao bằng đá liếp, một bên là hàng rào bằng cây chè luôn xanh tốt.. Nhìn từ ngoài vào, có một bức bình phong chắn tầm nhìn vào bên trong ,có lẽ đó là quy định của phong thủy hay bùa yểm gì đó mà tôi chưa có điều kiện tìm hiểu .Muốn vào nhà phải đi theo một con đường nhỏ bên trái , hai bên đường lại có cả hàng rào bằng cây và hoa thẳng tắp đi vào đến tận sân . Sau chính giữa bức bình phong là một cây mai tứ quý cao đến hơn bốn mét tán rộng xòe ra bốn bên . Đây là loại mai quý vì mỗi năm cho hai mùa hoa và mỗi mùa cho hai màu khác nhau, thường là đỏ và vàng . Để cho mai ra hoa vào đúng ngày Tết bố tôi phải coi thời tiết , nắng mưa ra sao rồi canh ngày bứt lá, bón thêm phân , tưới nước cho vừa đủ khi trời nắng và khơi rảnh cho thoát bớt nước khi mưa lớn , năm nào cũng vậy . Để cuối năm, cây ra hoa xum xuê , trông rất đẹp mắt . Kế bên phải cây Mai (từ trong nhìn ra) là cây Tùng (bách tùng) rất bề thế và vững chãi . Bên dưới cây Tùng là một hồ nước rất to và sâu , được xây nửa chìm nửa nổi lên trên mặt đất . Hồ có bề ngang khoảng bốn mét , bề rộng khoảng ba mét và sâu đến hơn một mét rưỡi ( bằng chiều cao người lớn ) trong đó phần chìm dưới đất một mét và phần nổi khoảng nữa mét , thành hồ rộng ba mươi phân , có thể đi được trên đó . Hồ được xây kiên cố bằng đá , tráng xi măng dùng chứa nước mưa để sử dụng quanh năm . Khi mùa mưa đến, anh em tôi lo vệ sinh hồ , nối lại máng dẫn nước cho chắc chắn . Khi cơn mưa bắt đầu, nước mưa làm sạch bụi bặm bám trên mái nhà mới bắt đầu hứng , dẫn vào hồ . Mưa đầu mùa ở miền trung dữ dội lắm . Chỉ cần một hai trận là hồ đã đầy nước dùng cho cả mùa một cách thoải mái , kể cả hàng xóm. Cách góc hồ nữa mét lại có một tháp miếu cao khoảng ba mét , chia thành ba hay bốn tầng ,là nơi thờ trời đất v.v . Người ta nói cây Tùng thể hiện sự oai phong và là hào khí của cuộc sống con người trong trời đất không biết có đúng không , chứ thời đó tôi còn nghe kể lại rằng : Cổng nhà, bức bình phong , cây Tùng, hồ nước và tháp miếu là năm thứ không thể thiếu được trong một căn nhà để trừ ma quỷ từ ngoài quậy phá nhà . Khi qua khỏi cổng , tưởng đã lọt vào bên trong nhưng bị bức bình phong chặn lại , ma quỷ phải bay lên trời để vào nhà thì bị tán cây Tùng chộp lại ,hoặc rơi xuống hồ nước kẹt lại tại đó , còn không sẽ bị các vị thần ở miếu giữ lại ,ở đó có xôi chè , trái cây quanh năm và không rõ thời gian lưu lại đó là bao nhiêu và có Ngọc Hoàng , Thiên Lôi hay Tôn Ngộ Không giám sát hay không .Có lẽ phải căn cứ vào thái độ ăn năn hối cãi của ma quỷ thì mới được THA - thả ma quỷ cho bay vào không trung rộng lớn .

Nói vậy không phải nhà nào cũng có điều kiện và bắt buộc phải có những thứ đó trước ngôi nhà của mình mới trừ ma quỷ được, mà ít nhất cái phải có là diện tích đất trong khuôn viên nhà mình có đủ chỗ hay không. Sau nữa là ảnh hưởng uy tín của ngôi nhà và cả chủ nhân của ngôi nhà đó nữa.

Ngay góc vườn phía trước nhà có một cây dâu và hai cây khế to, mà không chỉ hai mà đến bốn cây mới đúng, (vì phía sau vườn có hai cây nữa) cây nào cành lá cũng xum xuê và ra hoa kết quả quanh năm. Khế cho quả to,vị không chua cũng không ngọt lắm , gọi khế chua cũng đúng mà gọi là khế ngọt cũng không sai . Nên nó được gọi là khế Rành . Mổi độ xuân về , khế bắt đầu ra hoa, những chùm hoa khế đung đưa trước gió , thỉnh thoảng có những bông li ti lẻ loi rụng xuống đất khi có cơn gió mạnh chợt đến rồi chợt đi . Mặt đất lại được rắc đầy một màu hoa khế nom rất đẹp mắt .Thích nhất là lúc khế cho quả, từng chùm , từng chùm đung đưa, đung đưa trong gió cho đến khi quả chín, từ xanh xanh chuyển sang hườm hườm rồi vàng vàng ấy là lúc tụi con nít trong xóm lảng vảng lại gần để có thời cơ lấy sào hái hoặc ném đá cho khế rụng ….. rồi dùng vạt áo lau vội, bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến rất ngạo nghễ .Thường năm nào , hễ khế cho nhiều trái thì y như rằng năm đó có bão to , mà thật vậy, mỗi khi có bão đến khế oằn mình quằn quại , quay quắt trong gió . Thương nhất là những cành to , có nhiều trái, nó cứ như một người mẹ bị vắt kiệt sức gồng mình níu kéo lại đàn con thơ dại trong dông bão mà vô vọng để ngày hôm sau khi bão tan rồi thân hình người mẹ ấy tiêu điều xơ xác khi dưới mặt đất là lũ con trẻ nằm chỏng chơ , tan tác . Mỗi lần như vậy, anh em chúng tôi không ai bảo ai đều nhanh chóng ra sân lượm từng quả gom lại một đống , rồi phân loại to nhỏ khác nhau để cho Mẹ rửa sạch , nén vào chum hoặc vại rồi ngâm với nước mưa hòa với muối làm gia vị nấu thức ăn . Chẳng hạn món canh cá ngạnh , cá ngát, cá cơm nấu với khế thêm tý măng ngâm chua bằng nước mưa thì tuyệt vời lắm, nhất là khi ăn chung với rau sống nhiều loại.



Lúc còn nhỏ, Tôi được nghe bố tôi kể chuyện cổ tích , trong đó có chuyện “ Cây Khế” kể về hai anh em cha mẹ mất sớm để lại một số tài sản trong đó có một cây khế. Người anh tham lam giành hết chỉ chừa cho em cây khế ….không rõ cây Khế trong chuyện xưa và bốn cây Khế trong vườn nhà tôi có liên quan gì với nhau không , chỉ biết rằng bố mẹ tôi có bốn người con trai , phải chăng nên có bốn cây Khế để chia cho đồng đều để mà tự sống , tự quyết dịnh lấy tương lai hạnh phúc của mình. Chứ không được trông chờ vào sự may rủi kiểu ăn Khế trả vàng như trong chuyện cổ tích xưa . Nhưng gia đình tôi có đến năm anh em và trái Khế không chỉ có bốn múi mà thường có đến năm múi , không lẻ thiếu Xin thưa, múi thứ năm chắc là (có lẽ ) còn có ai chăng ? Phải rồi, Năm anh em cả thảy, đó là em gái của Dũng ! chị gái của Mạnh , tên gọi ở nhà là Ny . Đi học, đi làm có tên là Nguyễn thị Doãn Cung. Và như vậy, Ny hay Cung còn là chị gái của Cường , của Bảo nửa đó. Như vậy bốn Anh Em trai là bốn cây khế thì chị Ny chắc phải là cây Lựu , một cây Lựu cô đơn , lẻ loi trước sân nhà nhưng xung quanh có bốn cây khế bao bọc . Và nếu như ai đó còn nhớ ngôi nhà và khu vườn ở số 64 đường Xóm Câu thì cũng phải thừa nhận Cây Lựu mới chính là điểm nhấn làm cho khu vườn ấy trở thành Thượng Uyển trong mắt nhiều người đã từng sống và lớn lên trên mảnh đất Xóm Câu cũng như những người một thời yêu Đồng Hới

Cây Dâu bên cổng vào nhà, có trái và ăn được nhưng loại dâu này không phải để lấy trái , mà chủ yếu lấy lá nuôi tằm . Mỗi năm dâu cho hai lứa lá , lá to và dày bản . Khi dâu ra đầy lá có người từ Võ Xá hay Lệ Thủy xuống mua lá , và tự tay họ hái mang về nuôi tằm, tằm đẻ ra kén, kén nhả tơ . Rồi qua bàn tay khéo léo của những người thợ thủ công cùng những khung dệt bằng gỗ biến thành những dải lụa mảnh mai mềm mại. Loại lụa này trước đây chỉ phục vụ tầng lớp quý tộc hoặc cung phụng cho các cung tần mỹ nữ trong triều đình .Tương truyền, cùng với nền văn minh lúa nước có từ thời Vua Hùng thứ 18 thì nghề trồng dâu nuôi tằm cũng phát triển mạnh ở nước ta . Ngày nay lụa tơ tằm Việt Nam là một trong những mặt hàng xuất khẩu được ưa chuộng trên thế giới. Tôi đã có dịp được về thăm quê Bác – Làng Sen và nhìn thấy chiếc võng ru hời cùng khung dệt vải của thân phụ Bác, bởi vậy tiếng võng kẻo cà kẻo kẹt và tiếng thoi dệt vải từ ngôi nhà của CON NGƯỜI VĨ ĐẠI ấy cứ theo tôi suốt mấy chục năm qua . Để mỗi lần có dịp về thăm Đồng Hới lại chạnh lòng nhớ đến cây Dâu trước cổng nhà và văng vẳng bên tai tiếng thoi dệt lụa. Cổng nhà và sân vườn nhà tôi là thế đó , có phong thủy, có âm có dương để trừ ma quỷ .Có Tùng bách để thể hiện hào khí con người trong trời đất, có Mai có Lựu có Khế để luôn có mùa xuân và hơn nữa là có Dâu nuôi tằm để chứng tỏ lịch sử căn nhà gắn với lịch sử dân tộc cũng giống như sự tích bánh chưng bánh dày ; vải lụa được dệt từ tơ tằm dâng lên vua Hùng mà cho đến nay, đã qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước , mỗi khi năm hết tết đến nhà nào cũng phải có bánh chưng bánh dày để thờ cúng trời đất tổ tiên và nếu có điều kiện thì tặng Mẹ mảnh vải lụa tơ tằm .

Sân nhà rất rộng , được lát bằng đá mà là đá liếp , mỗi tấm có kích cỡ khác nhau nhưng sắc thành vuông cạnh . Mỗi tấm cách nhau chừng năm phân để dành chỗ cho nước mưa thấm xuống, đồng thời cho cỏ mọc thành rãnh , tạo thành đường ranh giữa các tấm đá, có tấm hình vuông lại có tấm hình chữ nhật mà nhìn vào cứ như một bàn cờ giữa thiên nhiên , lại ẩn hiện trong những tán cây , chậu cảnh và thoang thoảng mùi hoa ngâu, hoa nhài khi về đêm cho đến gần sáng . Phía trên sân ở những khoảng trống là giàn bằng cây để cây bầu, cây bí, cây sule đưa những cái vòi ra với, kéo vươn mình bò khắp nơi . Đến mùa , cho trái. Những trái bí, trái bầu dài ngoẳng hoặc như cái hồ lô đung đưa trong gió cứ mỗi ngày mỗi lớn lên và nặng thêm như muốn níu kéo cả gìàn cây sụp xuống . Rồi chừng chùm sule xanh rì, lè lưỡi tủm tỉm cười như một đàn lợn con bám chặt vào giàn như sợ té ngã khi một cơn gió đến .Ngọn bí ngọn bầu ngọn sule vươn đến đâu là hoa là trái ra đến đó và theo nó là một màu xanh phủ kín cả khoảng không gian phía trên còn bên dưới là một không gian mát mẻ đầy gió cùng những tia nắng lách qua được tán cây lúc ẩn lúc hiện chiếu xuống mặt sân. Huyền ảo , lung linh , lung linh .

Căn nhà chính gồm ba gian và hai chái , mái lợp bằng ngói xưa mà ngày đó gọi là ngói liệt. Tấm ngói hình chữ nhật có ngàm để móc vào nhau , tường nhà bằng đá hơi thấp luôn được rêu phong phủ kín; cửa chính ở ba gian giữa bằng gỗ có chạm trổ và liền kề , san sát nhau, chốt bên trong bằng gổ . Vào mùa đông, các cánh cữa được đóng kín để giữ cho bên trong không lạnh, còn mùa hè các cánh cửa được mở toang cho gió từ ngoài lùa vào tràn trề , luồn lách , len lỏi từ trong ra ngoài , từ ngoài vào trong , từ dưới lên trên . Gió từ ngoài vào, nền nhà bằng gạch tàu , cột nhà bằng gỗ, mái lợp ngói và bên dưới ngói là lớp rui mèn bằng gỗ ken kín , dày đặc nên không khí trong nhà luôn mát mẻ mặc dù bên ngòai nhiệt độ có cao đến mấy đi nữa . Từ ngoài vào , ba gian giữa cũng có đến ba lớp cửa . Lớp ngoài dùng để sinh hoạt ngủ nghỉ, còn hai lớp trong là nơi đặt bàn thờ . Bàn thờ cũng có đến bốn hay năm lớp từ thấp lên cao theo thứ tự khác nhau. Mỗi lớp đều có đầy đủ lư hương , chân đèn, lục bình , đèn dầu , đèn sáp v .v .Mỗi lần có kỵ giỗ hoặc việc họ , khi mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất , đèn đã được thắp lên cả ba gian nhà lung linh huyền ảo, hòa quyện với khói hương nghi ngút cùng mùi thơm của trầm lan tỏa vào không gian tĩnh lặng . Rồi mùi thơm của các món ăn ngon và lạ lan tỏa đến mọi người, nhất là lúc mặt trời đã đứng bóng và cái bụng đã cồn cào thì cùng vai cùng vế ngồi với nhau,để được hưởng lộc cũa ông bà. Đàn ông với đàn ông, người già với người già , trẻ với trẻ, phụ nữ ngồi với nhau và sau cùng là lớp choai choai trong đó có tôi

Bộ đồ thờ cúng trong nhà , hầu hết bằng đồng , bằng đồng thật. Năm nào cũng vậy, cứ đến gần Tết ba tôi lại nhắc anh em tôi chuẩn bị lau chùi cho sáng. Thế rồi đứa đi hái lá me đất , đứa hái khế , hái chanh, đứa đi kiếm vài ba rổ tro bếp , cát để rồi sau đó quây quần lại lau chùi miệt mài từ sáng đến trưa , từ trưa đến chiều cho đến tối mới xong . Bộ chân đèn , lư hương chùi xong cứ sáng loáng , bóng bẩy coi rất bắt mắt. Ba tôi cẩn thận kiểm tra từng cái ốc vít xem xiết chặt chưa, bộ phận nào chưa chùi sạch thì bắt phải chùi lại. Trước khi đặt lên bàn thờ ông còn bắt chúng tôi phải lau sạch bụi bám trên mặt bàn , khăn trải bàn cũng phải sạch sẽ , phẳng phiu. Do công việc này năm nào cũng làm nên thành quen và cảm thấy rất thích thú .Nhất là khi đèn được thắp lên , bộ đồ đồng lóng lánh, lung linh cùng mùi trầm , mùi hương lan tõa khắp cả căn nhà và những bộ quần áo mới vừa may xong được mang ra mặc thử.

Ba tôi sinh năm 1919 trong một gia đình Nho giáo .Ông bà nội chỉ sinh được hai người con, một trai và một gái .O tôi là chị, lớn hơn ba tôi đến gần một con giáp (1908) Thời đó mà chỉ sinh hai con có lẻ là chuyện lạ, nhưng không hiểu vì sao . Cũng vì vậy mà ba tôi được coi là đích tôn , được cưng chiều , theo kiểu gia trưởng. Tính khí đó ba tôi giữ cho đến khi lấy Mẹ tôi và cả khi chúng tôi trưởng thành. Là con một , nên Ông được ăn học tử tế , học trường Tây , vì vậy mà Ông đọc thông viết thạo tiếng Pháp. Do tiếng Pháp không dấu nên khi chuyển sang sử dụng tiếng Việt ông không thèm dùng dấu . Đọc một số văn bản do ông viết cứ lẩn lộn, na ná giữa tây và ta.

Sau Cách mạng Tháng 8 , Ông ở nhà coi sóc nhà cửa và chăm sóc bà nội, đồng thời mở lớp dạy chữ cho trẻ con trong khu vực Xóm Câu. Lứa học trò ba tôi dạy nay cũng đã trên dưới 70 cả rồi, thậm chí có nhiều người đã thành thiên cổ . Trong số đó vẫn còn một số ít người là học trò của thầy Học Đôn năm xưa như giáo sư- tiến sĩ Hoàng Trọng Bá , anh em kiến trúc sư Phạm Trọng Thống , Nhà giáo Trần Kỉnh , Anh Trần Cung ,Anh Nguyễn Chánh Vân …v…v rồi đền lứa nhỏ hơn như Anh Lê Minh Tâm, Phan Viết Dũng , rồi anh Thọ , anh Thử …. kể cả chị tôi là Lê Kim Phong và anh tôi là Lê Công Vân (con O tôi, cũng được học cậu Đôn). Ngoài việc dạy chữ cho con nít, Ông còn tham gia tích cực phong trào Bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ cho người lớn do chính sách ngu dân của thực dân pháp để lại. Nhất là khi Hồ Chủ tịch có lời kêu gọi thi đua ái quốc và chỉ rõ ( giặc dốt , giặc đói và giặc ngoại xâm) là ba thứ giặc nguy hiểm nhất đối với chính quyền cách mạng trong giai đoạn còn trứng nước, ngàn cân treo sợi tóc. Sinh thời, Ông có kể cho tôi nghe, ngày đó ngư dân Xóm Câu nói riêng và nhiều người Đồng Hới nói chung không biết chữ. Nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ nhiều người đã tìm đến Thầy Học Đôn để được no cái chữ . Thế là ngôi nhà của ba tôi trở thành lớp học Bình dân học vụ suốt ngày đêm , học trò không phải là đám con nít choai choai mà đủ mọi thành phần mọi lứa tuổi, căn nhà rộng rãi đến mấy cũng trở nên chật chội vì học trò ngồi la liệt từ trong ra ngoài và tiếng đánh vần Ê ,A và A , bờ, xờ… A , bê ,xê rồi I , Tờ , t..i…Sắc Tí lan tỏa khắp cả khu nhà. Không chỉ dạy ở nhà mình , thầy còn đến tận nhà dạy cho một số người do bận công việc không đến lớp được hoặc cả con cháu của bạn bè (dạng con cưng) không chịu đến lớp.Tôi có nói chuyện với mấy ông anh nguyên là học trò của Thầy năm xưa thì được nghe kể : Thầy nghiêm khắc lắm , phải học ra học, chơi ra chơi chứ không có kiểu vừa học vừa chơi hoặc học chiếu lệ. Tất nhiên với Thầy sẽ còn kỷ luật kèm theo mà thường là bắt quỳ , khi lổi nặng thì phải quỳ trên xơ mít.

Cũng cần nói thêm , căn nhà của ba tôi ngày đó không những chỉ là nơi dạy học đơn thuần mà còn là địa điểm đi về của một số cán bộ Việt Minh Đồng Hới , nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho chiến khu Thuận Đức , U bò hoặc chiến khu Thuận Lý (bao gồm Đức –Nghĩa Ninh , Cộn ngày nay) vì ngày đó thị xã là vùng tạm bị chiếm , quân đội Lê Dương đóng đồn bốt rải rác khắp nơi trong thị xã . O và dì tôi ( O Trợ , dì Cam , dì Bưởi ) ở ngoài phố , cùng một số chị em trong hội phụ nữ cứu quốc có nhiệm vụ mua gom lương thực , thực phẩm , thuốc men , dụng cụ y tế chuyển vào nhà ba tôi để đến tối có người của Việt Minh xuống nhận . Hồi đó và khi tôi còn nhỏ , tôi cũng chẳng biết Việt Minh là gì và làm gì trong đó , nhưng ít nhất tôi cũng được biết trong đó có anh em ông Đẳng , Ông Hoàng , vợ ông Hoàng (anh em cô cậu với ba tôi) mà lúc đó , mụ Ấm mẹ ông Hoàng, ông Đẳng cũng đang ở trong căn nhà này , ba tôi gọi bằng O . Ông Trạch ( chú của ba tôi) . Rồi Vợ chồng ông Kỳ -Trúc (ông Kỳ là anh Dượng Huy tôi) Rồi cả ông Lại văn Ly, ông Trần Thanh Đạt , ông Hồ Thanh Chương (người thân với gia đình tôi ) .Trong đó Ông Đẳng , Ông Ly làm công tác đảng , Ông Hoàng là nhà thơ Làm công tác phong trào. Bà Trúc làm công tác y tế , còn Ông Trạch , Ông Kỳ, ông Đạt , Ông Chương làm công tác công an . Và, như một duyên nợ đã được an bài cho đến gần 20 năm sau ( 1972 ) , chính Ông Trạch (Nguyễn Thế Trạch ) trưởng phòng tình báo của công an tỉnh Quảng Bình đã hướng và giới thiệu tôi vào ngành công an , hội đồng xét duyệt của công an tỉnh Quảng Bình do ông Trần thanh Đạt (lúc đó là phó ty ) làm trưởng ban, dự kỳ thi tuyển sinh vào đại học và trúng tuyển vào học học tại trường C500 (lúc đó gọi là Trường Công An Trung ương ) Ông Hồ Thanh Chương là trưởng khoa Tình báo và trinh sát của trường . Chỉ hai năm đầu học nghiệp vụ chung rồi đi luôn vào chuyên khoa chấp pháp ( điều tra xét hỏi bây giờ) Sau khi đươc nghe Ông Phan Kỳ , lúc đó là Trưởng phòng Chấp pháp của Công an Hà Nội báo cáo thực tế và kinh nghiệm công tác chấp pháp (xét hỏi ) các loại tội phạm , nhiều sinh viên háo hức xin vào chuyên khoa này , nhưng cuối cùng nhà trường chỉ chọn một số , trong đó có tôi . Lại như một duyên số được sắp sẵn , năm 1974 Ông Trần Thanh Đạt được cử đi Miền nam và phải tập trung tại trường để học tập thì tôi đã là sinh viên cựu , nhưng không dám bắt nạt sinh viên mới. Sau khi tốt nghiệp ( 1978 ), tôi được phân công vào Thành phố Hồ Chí Minh và nhận công tác tại phòng Cảnh sát hình sự. Lúc đó Ông Đạt vẫn còn là trưởng phòng , nhưng chỉ một thời gian ngắn , vì sau đó ông phải ra Hà Nội nhận công tác khác. Một điều ngẫu nhiên nữa là tôi được gặp và cùng công tác với ông Phan Kỳ , đại diện bộ công an phía Nam. Chỉ khác nhau ở chỗ ông là cán bộ của Bộ công an phía Nam , tôi là cán bộ công an thành phố Hồ chí Minh. Ông làm công tác An ninh, xét hỏi tội phạm xâm phạm an ninh Quốc gia, tôi là cảnh sát, xét hỏi tội phạm hình sự. Nhưng điều khác nhau cơ bản nhất giữa Ông và tôi ( cả thế hệ công an như tôi ) ông là bậc thầy, là thủ trưởng , của lực lượng điều tra tội phạm . Lại một sự trùng hợp tiếp theo , có thể nói như là định mệnh : Ấy là khi tôi được theo học một lớp nghiệp vụ ngắn hạn tại Trường đại học An Ninh phía Nam thì ở đó ông Hồ Thanh Chương đang là Hiệu trưởng

Xin tiếp tục chuyện về ba tôi .

Dạy học đến khoảng 1954 ba tôi chuyển sang làm việc tại xưởng in Duy Tân của ông Khóa Bé với nhiệm vụ được giao là kế toán , thời đó làm kế toán của một xưởng tư nhân cũng như là tay hòm chìa khóa của ông chủ . Mà cũng đúng thôi , Ông Duy Tân lại là chú ruột của mẹ tôi nên cháu giữ tay hòm chìa khóa cho chú đâu có gì sai …. Cho đến năm 1956-1957 miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh , cái xưởng in nho nhỏ ấy cũng không tránh khỏi bị trưng dụng , trưng mua và trưng thu. Mà trưng dụng , trưng mua thì ít mà trưng thu thì nhiều. Trưng dụng , nếu có thì dùng luôn .Trưng mua thì , kháng chiến mới thành công còn dùng đồng bạc Đông Dương , chưa phát hành kịp đồng bạc Bác Hồ lấy đâu mà trả .Thế rồi Nhà nước chơi màn : Trả bằng lợi tức hàng tháng cho người dân. Với cách trả này lợi đâu chẳng thấy, chỉ thấy tức, tức triền miên. Vì biết đến khi mô Nhà nước mới trả đủ cho họ.

Mặc dầu biết vậy, nhưng ba tôi với tư cách là kế toán của ông Duy Tân đã thực hiện công tác bàn giao một cách suôn sẻ, để xưởng in tiếp tục đi vào hoạt động ….và ba tôi trở thành công nhân xí nghiệp in Quảng Bình cho đến sau này

Là người công nhân dưới chế độ mới , lương mỗi tháng chỉ từ 39 đến 45 đồng , lại phải lo chăm sóc mẹ (bà nội tôi ), vợ (mẹ tôi lúc đó chưa đi làm ) và một đàn con ba rồi bốn rồi năm đứa đang sức ăn , sức lớn và đều trong độ tuổi đi học . Ngoài đồng lương công chức ra , đâu có thu nhập nào nữa . Muốn làm thêm, cũng chẳng có việc mà làm , cũng chẳng ai thuê mướn . Chỉ thi thoảng , tôi thấy ông ghé chỗ ông Đào , người phụ trách thư viện tỉnh , ôm về một đống sách cả cũ và mới rồi hì hục tháo mở để đóng lại cho chắc chắn hoặc làm bìa các tông cho đẹp và bảo quản cho lâu mà thù lao thì chẳng được là bao , chủ yếu là giúp đỡ nhau trên tinh thần thân quen với ông Đào , hay do thư viện và xưởng in có cùng một cơ quan chủ quản là ngành văn hóa thông tin .Mặc dù chỉ với đồng lương như vậy nhưng cuộc sống của gia đình chúng tôi không đến nổi quá khó khăn . Vẫn đầy đủ, cơm ngày ba bữa ,quần áo tươm tất , học hành chu đáo .Và tháng nào cũng vậy, đã thành thông lệ cứ đến kỳ lĩnh lương thế nào chúng tôi cũng được ông chiêu đải một đọi (bát ) phở Nam Phát hoặc một dĩa bánh bèo mụ Cày hay mụ Phẩm để động viên tinh thần .Ngoài ra, ông cũng không quên thưởng cho ông 5 hay 6 giác (hào), mua được một chai bảy (0,7) lít quốc lủi , made in Võ xá hay made in Ba đồn mà ông sai tôi đi mua ở nhà ông Cửu Mai, dưới đường bờ sông Nhật lệ , cùng nhưng phía trước nhà bác Trương Duy Bình (chỉ mua ở nhà ông Cửu thôi , chỗ khác ông không chịu) đem về ông làm một chén rồi đem cất .Mà ông đâu có uống một mình , thỉnh thoảng chú Trang cũng sang làm một chén . Ngoài quốc lủi ra ông còn hút thuốc lá (thuốc vấn) . Loại thuốc Cẩm lệ xắt sợi , mua ở tiệm ông Khóa Phu hoặc tiệm của bà Nghè Bang ở đường Lâm Úy hoặc do ông tự trồng trong vườn nhà và nhất là trà thì không thể thiếu mỗi sáng sớm , mà phải do tự tay ông nhóm bếp, đun nước và pha trà. Người khác làm ông chê không đúng cách. Ông thích dùng trà Ba Đình là loại trà gần như số 1 , loại trà này chỉ bán cho cán bộ trung cao cấp thời đó , hoặc trà Thái Nguyên mà anh Vân hay chị Phong đôi khi gửi từ Hà Nội vào biếu cậu . Ngoài những thói quen trên , ông còn có đam mê chăm sóc cây cảnh trong vườn, trồng năm bảy luống rau xanh , trồng và chăm sóc năm bảy gốc bầu gốc bí cho mát nhà lại có trái ăn, trồng vài ba chục cây thuốc lá rồi tự tay thu hoặch , chế biến . Thăm viếng bạn bè hoặc lâu lâu tụ tập mấy người bạn cùng tuổi như ông Đội Sung , ông Khóa Yêm , ông Cửu Đài ,ông Thông Hoa v.v làm năm bảy ván tổ tôm. Thời kỳ gia đình chú Linh ở chung trong nhà , ba tôi cùng chú nuôi chim bồ câu, không hiểu ai mát tay hơn ai và có bí quyết gì mà bồ câu đẻ liên tục , lại còn gù được chim hàng xóm về ở chung , nhiều lắm . .

Những năm tháng chiến tranh, không quân Mỹ tàn phá Miền Bắc , đánh phá Quảng Bình , Đồng Hới sơ tán , xưởng in cũng sơ tán. Đồng Hới sơ tán vài ba lần ở vài ba nơi thì xưởng in phải sơ tán đến bảy tám lần và đến cũng bảy tám nơi. Đồng Hới bắn hạ máy bay Mỹ bằng súng cao xạ , dân quân tự vệ xưởng in cũng bắn hạ máy bay Mỹ bằng súng 12,7 ly . Xưởng in Quảng Bình là vậy đó và có thể là hơn thế nữa . Bởi vì công nhân xưởng in Quảng Bình nhận thức được trách nhiệm và vinh dự của mình vì bảo vệ mình chính là bảo vệ tiếng nói của Đảng , tiếng nói của đảng bộ và chính quyền tỉnh cùng các chỉ thị , nghị quyết của trung ương , không chỉ phục vụ cho riêng Quảng Bình mà còn cho cả chiến trường Trị Thiên , chiến trường Miền Nam. Vì thời đó chỉ có báo in là truyền tải tin tức đầy đủ và rộng rải nhất. Cũng vì vậy nên kẻ địch rất chú ý đến xưởng in và tìm mọi cách để phá hoại. Sòng phẳng mà nói thì ngày đó công nhân xưởng in chịu vất vả , cực khổ nhất ngay từ khâu tháo dỡ máy móc vận chuyển đến nơi ở mới. Lại vất vả cực khổ hơn khi thấy có dấu hiệu nơi ở mới bị lộ . Máy bay trinh sát nhòm ngó. Những ngày đó , người công nhân xưởng in là:

Kẻng cơm , trời tối lắm rồi ,
Màn đêm đã xuống khuya rồi , đó nghe.
Kệ !
Ta chưa ăn, vì lắp máy chưa xong ,
Chờ thêm nữa trăng lên ta làm tiếp,
Máy sẽ cười khi có ánh bình minh .

Trong nhiều địa điểm xưởng in sơ tán thì Làng Phúc Duệ thuộc xã Vĩnh Ninh huyện Quảng Ninh là địa điểm sơ tán đầu tiên . Ấy là vào khoảng sau Tết năm 1965 . Sau khi tỉnh nhà phát lệnh sơ tán khẩn cấp cho toàn thị xã , hàng trăm công nhân nhà in bổng chốc trở thành thợ cơ khí và công nhân bốc xếp . Hàng chục cổ máy in , mỗi máy hàng trăm kí được tháo rời , cùng hàng trăm dụng cụ khác , trong đó có chữ bằng chì phải đóng thùng hoặc đóng trong bao bố rồi vận chuyển bằng mọi phương tiện xuống sông Nhật lệ , ngược dòng lên Quán Hàu , Vĩnh Tuy mới đến Phúc Duệ . Từ bờ sông , công nhân lại phải vận chuyển vào từng ngôi nhà dân rồi hì hục lắp ráp trở lại . Mặc dầu quá trình vận chuyển và lắp ráp phải thực hiện vào ban đêm nhưng phải đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật , không được bỏ sót các chi tiết dù nhỏ nếu không , máy đâu hoạt động được .

Quá trình vận chuyển như vậy, mỗi người một việc tùy theo sức của mình , thanh niên trai tráng thì khiêng vác máy , người già và phụ nữ thì gồng gánh , rất nhiệt tình và hăng hái .Khí thế và tinh thần làm việc thời đó chỉ có được khi khẩu hiệu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược ‘’ hoặc “mổi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt vì thống nhất Bắc Nam ’’ đã ăn sâu vào con tim và khối óc của mỗi người .Với Ba tôi cũng vậy .

Làng Phúc Duệ nhỏ nhắn, xinh xắn và yên ã ấy không chỉ là nơi đứng chân của xưởng in những ngày đầu sơ tán mà nó lại còn là nơi tật kết gặp gỡ của những đoàn quân ngược xuôi từ Nam ra Bắc , từ Bắc vào Nam nên chẳng bao lâu lại trở thành trọng điểm bắn phá của những máy bay ném bom Thần sấm , Con ma của không lực Huê Kỳ khi chiến tranh ngày một leo thang . Ngày cũng như đêm máy bay ném bom bắn phá đường 15 , Cầu Vĩnh Tuy, bến phà Quán Hàu , phà Long Đại cũng bị ném bom và thủy lôi để ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến miền Nam và……Phúc Duệ cũng không ngoại lệ , thành trọng điểm và bị ném bom , kể cả pháo tầm xa từ biển dội vào và….. lại phải di chuyển .

50 năm đã trôi qua, tôi cũng chưa có dịp nào trở lại thăm nơi ấy .Nhưng hình ảnh những con người, những căn nhà bình dị , mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm đã cưu mang đùm bọc gia đình tôi và cả đại gia đình xưởng in ngày đó vẫn còn khắc sâu trong trái tim tôi .Gia đình chú Xảo , chú Sự ,chú Thẩm v.v… hiện sống ra sao , ai còn ai mất . Nhân nhắc lại những kỷ niệm đã qua cách đây nửa thế kỷ xin gửi đến những ai còn sống ngàn lời cảm ơn và những người đã mất ngàn nén nhang lòng.

Qua bảy tám lần di chuyển và trong điều kiện thiếu thốn mọi bề ,bệnh tật triền miên mà nhiều nhất là sốt rét nhiều người trong đó có ba tôi đã gần như kiệt sức.Đến khoảng năm 1969 ông mắc bệnh nan y mà không có thuốc men chữa trị . Được chuyển ra Hà Nội và điều trị ở bệnh viện Việt Đức, bệnh có lúc thuyên giảm nhưng lại tái phát vào năm 1972. Những ngày đó, cả Hà Nội sơ tán chuẩn bị cho trận quyết tử trên bầu trời bằng chiến dịch “ Điện Biên Phủ trên không ‘’ Ông cùng người Hà Nội hứng chịu hàng loạt bom B52 vào ngày và đêm Noel năm đó rồi đã ra đi mãi mãi .Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 trên bầu trời Hà Nội kéo dài suốt 12 ngày đêm gây không biết bao nhiêu thiệt hạ cho Hà Nội, nhưng thiệt hại lớn nhất là cho con người . Ngày nào cũng có người chết và bị thương, ít thì hai ba chục có ngày năm sáu thậm chí bảy chục người chết Nghĩa trang Văn Điễn lúc nào cũng đông nghịt bởi người sống tiễn biệt và chôn cất người chết. Trong hoàn cảnh đó, nhưng các anh chị tôi, nhất là Ny cũng một tay sắp xếp lo liệu đâu vào đó để cho chuyến hành hương đi vào cõi vĩnh hằng của Ba rất an toàn và chu đáo . Nhưng có điều , tấm bia đá khắc tên Ba tôi ngày đó không kịp ghi quê quán ở Đồng Hới , Quảng Bình mà chỉ ghi vắn tắt “ 12 Hàng Chĩnh khu Hoàn Kiếm-Hà Nội” vì đó là địa chỉ nhà chị Phong (cháu kêu ba tôi bằng Cậu) mà đây cũng là địa chỉ bệnh viện Việt Đức thường xuyên liên hệ khi cần . Tờ khai tử cũng từ nơi này mà có, do vậy,những năm đầu ở cõi hư vô đó, Ba tôi được làm người Hà Nội.

Mẹ kém ba một tuổi.

Không rõ hai người lấy nhau từ năm nào , vì từ trước tới nay mấy ai để ý đến chuyện này.Bây giờ, muốn tìm hiểu cũng đành chịu.Vì hai người nay đã thành thiên cổ cả rồi mà bà con nội ngoại cũng chẳng còn ai lão làng hơn để mà tìm hiểu, nên đành suy luận theo kiểu đoán vậy. Anh đầu của tôi sinh năm 1947 thì chắc chắn ba mẹ tôi lấy nhau trước đó khoảng một hay hai năm , vị chi là ông bà lấy nhau năm 1945 hoặc 1946 gì đó. Lúc đó ông bà khoảng 25 hay 26 tuổi có lẽ là hợp lý.Mẹ có năm anh em ( hai trai ,ba gái ) tuy là gái đầu , nhưng là con thứ (vì có một người anh) nên có bổn phận nặng nề hơn ba người em sau. Nghe nói ở nhà bà phụ ông bà ngoại chăm sóc nhà cửa , lo cơm nước cho cả nhà và ngay cả việc học hành bà cũng nhường cho anh và những người em sau .

Từ ngày xuất giá, về nhà chồng bà lại có bổn phận mới là làm dâu , làm vợ rồi làm mẹ .Mọi việc trong nhà từ nhỏ đến lớn một tay bà quán xuyến .Từ chuyện chăm nom cho bà nội đến lo cho ba tôi và tất cả chúng tôi bà không nề hà , việc gì cũng phải qua tay bà và tất cả đều tươm tất , đâu vào đấy. Chỉ riêng việc dọn dẹp quét nhà thôi , nếu quét cho sạch cũng phải mất từ hai đến ba giờ đồng hồ mỗi ngày mà đâu chỉ có quét , còn phải chợ búa nấu ăn, chăm sóc vườn hoa cây cảnh trong nhà , rồi lo hủ cà hủ kiệu,hủ mắm , hủ muối v…v . để phòng khi bão lụt hoặc mưa to gió lớn thất thường

Đến khoảng năm 1957 , bà đi làm xưởng trà Trường Xuân của ông Trợ Chuẩn ở góc chợ Đồng Hới .
Công việc của bà là phân loại và gói trà , tức trà sau khi chế biến xong phải phân loại to nhỏ , tốt xấu khác nhau để đóng gói sau đó mới xuất bán ra thị trường . Công việc này tuy nhẹ nhàng nhưng rất tất bật vì phải làm khẩn trương cho kịp thời vụ và đảm bảo chất lượng cũng như phải giữ cho được hương vị của trà .Cũng từ công việc này mà có thêm đồng lương (tuy ít ỏi ) để lo cho cả nhà. Nhưng khổ nỗi nghề này chỉ có tính thời vụ vì phụ thuộc vào nguyên liệu. Đất Quảng Bình đâu phải đất trồng trà, mà phải thu mua từ các nơi khác đem về nên rất bị động trong sản xuất. Do vậy xưởng trà không phát triển được mà ngày một thu nhỏ lại cho đến khi ngừng sản xuất. Thời kỳ này , xưởng in ngày một phát triển về chất lượng và cả số lượng người làm việc nên bà chuyển sang xưởng in .Cũng như tất cả các cơ quan xí nghiệp khác trên miền Bắc, để công nhân yên tâm sản xuất , đơn vị nào cũng thành lập bộ phận giữ trẻ để chăm sóc con cái họ. Nhà trẻ xưởng in ra đời trong hoàn cảnh đó và bà trở thành một trong hai (người kia là O Trai) người công nhân nhà in làm nhiệm vụ chăm sóc trẻ , là con cái công nhân viên từ đó. Cái nghiệp giữ trẻ gắn với cuộc đời bà cho đến tuổi nghỉ hưu rồi lại tiếp tục chăm sóc cháu chắt cho đến khi già .

Mẹ tôi thực sự là một người mang đậm truyền thống đặc trưng của Phụ nữ , bởi tính đảm đang hay lam hay làm lại luôn nhường nhịn , nhẫn nhục trong đối nhân , xử thế . Suốt đời không làm phiền lòng ai và cũng ít ai làm bà phiền lòng. Bởi đối với bà : cho là được ,Cho ít là được ít , cho nhiều là được nhiều và càng cho là càng được. Còn nhận ư ? Bà luôn coi là nợ và phải trả , trả càng nhiều càng tốt. Với tính cách đó nên , cả cuộc đời bà là những chuỗi ngày tần tảo chăm lo cho gia đình , thương yêu, chăm sóc cho chồng, cho con, cho cháu chắt và cho cả những người thân trong gia đình thậm chí cả ai đó lúc sa cơ lỡ vận hay hành khất qua đường.

Cả năm anh em chúng tôi được mẹ sinh ra, lớn lên từ bầu sữa của bà , trong vòng tay âu yếm và tiếng ru ngọt ngào của bà để lớn lên và trưởng thành theo năm tháng và khi chúng tôi càng lớn nhu cầu về cái ăn , cái mặc , cái học càng nhiều thì Mẹ càng già ,sức càng cạn .Nhưng với bà, cái quan niệm “Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử “ là quan trọng hơn cả. Do vậy , với bà:

Các con có lớn , vẫn là con của mẹ,
Mẹ vẫn theo con suốt cả cuộc đời.

Nghe kể lại: ngày mẹ sinh anh Dũng , cũng là lúc giặc Pháp đổ bộ vào Đồng Hới , người dân Thị xã thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến , bằng “ Vườn không nhà trống’’ bỏ lại nhà cửa vườn tược rồi dắt díu nhau đi tản cư. Ai có thân nhân hay người quen ở đâu thì đến đó lánh nạn . Mỗi người một đường , mỗi đường về mọi ngã , mẹ tôi tay xách nách mang ôm con theo đò tản cư lên tận Xuân Dục ở nhờ nhà ông Hương Cành và nhà bác Khóa Huyền . Ở trên đó một thời gian , chờ cho thị xã yên ổn lại trở về sinh sống.

Anh tôi lớn lên vào bộ đội , mẹ thấp thỏm vào ra . Chiều nào đi làm về cũng nhìn ra ngõ đợi chờ mong ngóng . Mâm cơm đã dọn mà bà đâu có chịu ngồi ăn , chỉ chực chờ với hy vọng mong manh biết đâu nó được về ,dù chỉ trông chốc lát. Ngày giặc Mỹ mang bom đạn đánh phá miền Bắc, đánh phá quê hương Quảng Bình , bỏ lại nhà cửa, vườn tược với một đôi quang gánh trên vai . Một bên là nồi niêu xoong chảo , năm bảy kí gạo, mắm ruốc và một bên là thằng út mới bốn tuổi cùng hàng ngàn người dân Đồng Hới dắt díu nhau đi sơ tán khi ông mặt trời còn đang ngủ. Cả năm mẹ con vượt Cầu Dài , cùng đoàn người nối đuôi nhau lên tận Lương Yến tá túc tại nhà chú Học , chú Viễn là công nhân xưởng in để chờ chủ trương mới.Chiều nào , mấy anh em chúng tôi cũng ra đứng đầu làng, hướng mắt nhìn về phía Đồng Hới mà lòng bồi hồi xao xuyến vô cùng. Có những ngày máy bay Mỹ gầm rú trên trời rồ bổ nhào ném bom thị xã, rồi tiếng súng cao xạ, súng trường các loại như xé nát không trung .Cả Đồng Hới rung chuyển , cả Đồng Hới chớp giật bởi bom Mỹ . Rồi Cầu Dài , Cầu Ngắn bị đánh sập và tượng Phật chùa Linh Quang, chùa Phật Học cũng phải lăn lóc ra đường.Lại có những đêm thức trắng bởi pháo sáng rồi hàng loạt pháo tầm xa của tàu chiến Mỹ từ biển Đông dội vào . Rồi hàng chục người chết và bị thương, cả thị xã quằn quại trong tang tóc đau thương. Những ngày đầu chiến tranh ở Đồng Hới của ta là vậy đó.

Xưởng in đi đến đâu cả nhà cũng đi đến đó ,kể cả trèo đèo lội suối vào tận rừng xanh thăm thẳm mẹ cũng vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị nhà cữa, giường chiếu để tiếp nhận con cái công nhân và chăm sóc nuôi dưỡng chúng , dù trong mọi điều kiện mọi hoàn cảnh , khó khăn gian khổ đến đâu.Và cùng với tiếng máy in reo vui rộn ràng từ sáng đến tối thì tiếng hát ru..hời …ru ..hởi …là …ru của mẹ cũng ngân nga đi vào từng giấc ngủ, vào từng tâm hồn non nớt của trẻ thơ, ngay dưới tiếng gầm rú của máy bay và bom đạn của giặc Mỹ.

Khoảng năm 1973 bà nghỉ hưu nhưng vẫn phải sống trong khắc khoải đợi chờ vì năm người con mỗi đứa một phương .Anh Dũng tôi vẫn còn trong quân ngũ, chị gái tôi ra Hà Nội sơ tán rồi ở lại làm việc ngoài đó luôn .Tôi cũng phải đi học xa , ở nhà còn lại Mẹ với hai thằng út .Nhớ con ngày nào bà cũng khóc , thỉnh thoảng có đứa nào về bà mừng như bắt được vàng .Con về , bà khóc; Con đi , bà cũng khóc.

Nhớ lại những ngày gian lao vất vả trong chiến tranh, những ngày thiếu ăn , thiếu mặc trong thời bao cấp, tôi không bao giờ quên được hình ảnh bà trong những đêm đông giá lạnh, những ngày mưa gió bão bùng bà luôn dành cho chúng tôi sự ấm áp từ tâm hồn đến cuộc sống .Nhường cho con chỗ nằm và chiếc chăn ấm trong đêm lạnh giá . quạt cho con ngủ trong những đêm hè oi bức …. Những trưa hè trời nắng chang chang mẹ vẫn cặm cụi ở góc vườn nhặt cho đầy mớ rau tập tàng để nấu cho con nồi canh ăn cho mát bụng .Những buổi sớm tinh mơ bà dậy sớm nấu nồi cơm rồi ém chặt, chuẩn bị cho anh em tôi trước những chuyến đi xa. Không chỉ lo cho các con , mẹ còn quan tâm chăm sóc cho cậu tôi , là anh mẹ vì ông sống độc thân , không con cái.Có lẽ cái hạnh phúc lớn lao nhất của mẹ tôi là đem lại hạnh phúc cho mọi người

……….

Anh đầu lập gia đình ở Quảng Bình lúc đó mẹ tôi còn khỏe, anh chị tôi chớp thời cơ ba năm cho ra đời ba đứa cháu nội để một tay mẹ chăm nom, ẳm bồng, nuôi nấng .Cả ba đứa quen hơi bà nhiều hơn hơi mẹ nó , tay sờ bú tý mệ nhiều hơn sờ bú tý mẹ nó. Vợ chồng tôi thấy bà còn khoe khỏe cũng tranh thủ đón bà từ quê vào chăm sóc hai cục cưng một gái, một trai mà cách nhau đến những năm năm . Mà khổ nỗi ở Sài gòn nhưng tối ngày cứ than ngắn thở dài rằng nhớ con , nhớ cháu, sợ không ai hương khói cho ông , bà. Rồi thằng em kế tôi ở Huế sợ mất phần cũng làm luôn một mạch hai đứa cũng một gái , một trai, đưa mệ vào coi sóc cho yên tâm . Duy chỉ có thằng cháu ngoại ở tận ngoài Sơn Tây thì đã có bên nội lo nhưng cũng vài ba lần mẹ tôi cũng ra thăm cháu .Thằng út, ở Sài Gòn sinh sau và lập gia đình sau cùng, tưởng hết phần nhưng cũng có một công chúa được Mệ chăm nom . Vậy là ai củng có phần cả , năm người con , chín đứa cháu đều qua tay mệ . Nếu tính từ đứa thứ nhất – bé Hương cháu đầu – thì lúc đó mẹ tôi đả qua tuổi lục tuần , nhưng thương con thương cháu bà vẫn lặn lội từ Bắc vào Nam , Từ Nam ra Bắc suốt chặng đường hơn hai mươi năm để chăm nom cả thảy chín đứa cháu , cho đến gần tám mươi tuổi bà mới thật sự được nghỉ ngơi. Mặc dù đã qua tuổi xưa nay hiếm nhưng sức khỏe của bà rất tốt , lại ăn được, ngủ được mà tuổi đó “ăn được ngủ được là tiên , không ăn không ngủ tốn tiền thêm lo” nên bà không hề ốm đau bệnh tật gì cả, bà sống với cuộc sống rất bình dị, cùng vợ chồng anh đầu tôi và tình mến thương của họ hàng trong thân tộc cùng bà con hàng xóm láng giềng .

Nhưng tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng giảm ,điều đó không có gì là lạ và bà cũng không phải là trường hợp ngoại lệ của số phận con người và quy luật của tạo hóa . Bởi bà là con người bằng xương bằng thịt dù muốn cũng không sao tránh khỏi quy luật của tự nhiên . Bà biết nhưng rất sợ cái ngày nào đó , khi sức cùng , lực cạn mà phải ra đi thì không ai đi vô đi ra coi dùm nhà cữa cho chúng nó. Nhưng bà có muốn cũng không được , vì có ai sống được đến mãi đâu .

Mẹ già như trái chín cây ,
Gió lay Mẹ rụng , biết ngày nào đây.

Chiếc lá vàng trên cây, khi không còn thực hiện chức năng hấp thụ ánh mặt trời được nữa thì cũng phải lìa cành và rơi theo làn gió nhẹ, để về với đất. Ấy là quy luật của tự nhiên và cũng là quy luật của kiếp Người . Dẩu biết, bà đã vượt qua , vượt qua tất cả mọi biến cố và cả trong bom rơi đạn nổ để đến với tuổi Cửu thập, mà người đời cho là Xưa nay hiếm. Bà đã vượt qua cái ngưỡng của số phận mà tạo hóa đã sắp đặt cho con người là : SINH- LÃO – BỆNH – TỬ để đến với thế giới vô thường, hư vô nơi cửa Phật .Vâng ! Một Cõi đi về ! Ấy là lúc 5giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 năm 2010 (tức 7 / 2 năm Canh Dần ).

“Rồi sẽ một ngày con không còn Mẹ .
Trời vẫn xanh ,
Biển vẫn xanh, và vẫn mặn ngàn đời.
Trái đất vẫn thiên di những bước chân không mỏi
Chỉ lòng con không còn nắng, Mẹ ơi”



Vậy là từ nay chúng con không còn Mẹ nữa ,
Vậy là từ nay các cháu không còn Mệ nữa .

Tiếc thương vô hạn , muốn khóc cũng không thành tiếng. , chỉ cố kìm nén trong lòng . Ôi; Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình .

Một người Mẹ bình thường như trăm , như ngàn người Mẹ khác . Nhưng với chúng con mẹ là tất cả , mẹ là vĩ đại nhất trong suy nghĩ , trong tình cảm , trong cuộc sống, trong từng giấc ngủ và cả giấc mơ. Bởi thế gian này , có nhiều lắm những kỳ quan, những tượng đài, nhưng không kỳ quan nào,không tượng đài nào bằng trái tim và tấm lòng nhân hậu của Mẹ.

Ngày Mẹ ra đi, Mùa Xuân vẫn còn đâu đó , Mùa Hạ chưa về . Sớm mai trời còn mát nhưng đến chiều lại nóng như thiêu . Hôm cuối cùng , Ông trời bỗng dưng chuyển hướng , đưa về một cơn gió lạnh đột ngột vào lúc nửa đêm , rồi tiếp một cơn mưa rào nhẹ lúc gần sáng .Trời đất dung hòa , nắng mưa , nóng lạnh đâu đâu cũng đến như chia sẽ cùng. Có lẽ, Ông Trời cũng muốn tiễn biệt một người đã sống trên cõi đời này ngót chín phần mười thế kỷ, chứng kiến bao thăng trầm nhân thế. Căn nhà nhỏ , nép mình dưới rặng xà cừ , cạnh bờ hồ công viên là nơi bà sống cùng anh chị tôi gần 40 năm rồi , nay bỗng dưng nhộn nhịp, nhộn nhịp nhưng im lặng . Im lặng mà không nặng nề . Cơn mưa rào nhẹ lúc ban mai chưa đủ thấm đường , mặt đất sền sệt , ươn ướt như cố níu lại dấu chân và hơi thở của bà lần cuối .Tất cả con cháu từ muôn nơi , bà con gần xa , bà con hàng xóm láng giềng, bạn bè thân hữu đâu đâu cũng đến để thắp nén nhang tiễn biệt. Các cháu Sơn , Kim Chi , Quân đang công tác ở Hà nội cũng vào chịu tang và đưa tiễn bà . Nhưng có lẽ xúc động nhất là sự có mặt của các cựu binh lái xe thời chống Mỹ như anh Trang , anh Vị ….nguyên là bộ đội lái xe cùng đơn vị với anh Dũng tôi từ thuở “Nằm ngữa nhớ trăng , nằm nghiêng nhớ bến . Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo ...’’ từ quê ở Nghệ an nghe tin cũng vào.

Mẹ tôi đã sống và chứng kiến bức tranh xã hội Việt Nam từ thuở phong kiến , đến thực dân . Rồi chính quyền cách mạng từ sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đến cuộc kháng chiến 9 năm và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Rồi những năm tháng thắt lưng buộc bụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, những năm tháng chống Mỹ cứu nước oanh liệt và chiến thắng vẻ vang . Một con người đã phải trải qua hàng chục ngàn ngày trong thời kỳ bao cấp với nền kinh tế thời chiến, rồi cũng chứng kiến sự ra đời của Nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam vươn lên tầm cao mới .Một con người đã sống qua 80 năm của thế kỷ 20 và gần 11 năm của thế kỷ 21. Con người đó là Mẹ tôi.

Cha , Mẹ là đấng sinh thành , xin ghi lòng tạc dạ.
Nam mô bổn sư Thích- ca- Mô- Ni- Phật!

Cầu mong cho vong hồn của Ông , Bà nơi chín suối gặp lại nhau.

“ Mây trời lồng lộng không che nỗi công Cha.
Nước biển bao la không đong đầy lòng Mẹ’’
Xin Ba , Mẹ nhận nơi các con ngàn ngàn nén nhang lòng.

NGUYỄN DOÃN MẠNH
SaiGon 02-09-2010